Chương 2 : chế dộ giao dịch và nét đặc chưng của TTCK việt Nam
tiết 1: cơ chế giao dịch của thị trườngtiết 1:những đặc thù cue TTCK Việt Nam
tieets3: những vấn đề tồn tại
tiết 4 rủi ro tiềm ẩn của TTCK việt nam
Chương 3: Một số phương án thúc đẩy TTCK phát triển tốt hơn.
tiết 1: cơ chế giao dịch của thị trường
Hệ thống giao dịch
Bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 28/7/2000, toàn bộ mọi giao dịch chứng khoán tại Sởgiao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (SGDCK TP.HCM) được thực hiện trên một hệ
thống giao dịch khớp lệnh hoàn toàn tự động. Nhà đầu tư đặt lệnh giao dịch thông qua
các công ty chứng khoán là thành viên giao dịch của Sở, sau đó lệnh sẽ được công ty
chuyển vào sàn giao dịch của Sở. Tại sàn giao dịch, đại diện giao dịch của công ty sẽ
nhập lệnh vào hệ thống giao dịch khớp lệnh thông qua các trạm đầu cuối nhập lệnh
được Sở bố trí cho các công ty chứng khoán thành viên.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thị trường, nhằm đáp ứng những thay đổi về nhu cầu
giao dịch của nhà đầu tư, kể từ tháng 1/2009, SGDCK TP. HCM đã đưa hệ thống giao
dịch trực tuyến vào hoạt động. Giao dịch trực tuyến cho phép các công ty chứng khoán
kết nối trực tiếp hệ thống giao dịch của công ty đến hệ thống giao dịch của Sở; nhờ đó,
lệnh của nhà đầu tư được chuyển một cách tự động từ hệ thống của công ty chứng
khoán vào hệ thống giao dịch khớp lệnh. Hoạt động giao dịch trực tuyến đã phát huy
hiệu quả rõ rệt nhờ tác dụng gia tăng tốc độ gửi lệnh từ công ty chứng khoán đến hệ
thống của Sở, cải thiện triệt để tình trạng “thắt nút cổ chai”, góp phần đẩy mạnh tính
thanh khoản của thị trường.
Các lệnh của nhà đầu tư sau khi được nhập vào hệ thống giao dịch của Sở sẽ được so
khớp một cách tự động theo nguyên tắc ưu tiên về (i) giá và (ii) thời gian. Hệ thống giao
dịch còn cho phép thông báo tức thời kết quả khớp lệnh đến công ty chứng khoán thành
viên để công ty chứng khoán nhanh chóng xác nhận kết quả với khách hàng.
Giao dịch khớp lệnh
Căn cứ trên tiến trình thực hiện so khớp lệnh, hệ thống giao dịch tại SGDCK TP. HCM
có hai phương thức giao dịch chính: khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục.
Phương thức khớp lệnh định kỳ là phương thức giao dịch được thực hiện trên cơ sở
so khớp các lệnh mua và bán chứng khoán tại một thời điểm xác định. Phương thức
này cho phép các lệnh sau khi gửi vào hệ thống giao dịch được sắp trên sổ lệnh theo
thứ tự ưu tiên, sau đó sẽ được so khớp tại một thời điểm xác định với một mức giá
khớp lệnh duy nhất cho mỗi loại chứng khoán. Nguyên tắc xác định giá khớp lệnh theo
phương thức này như sau :
1) Là mức giá thực hiện được khối lượng giao dịch lớn nhất.
2) Nếu có nhiều mức giá thỏa mãn mức giá trên thì mức giá trùng hoặc gần với
giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn.
Phương thức khớp lệnh liên tục là phương thức hệ thống giao dịch thực hiện so khớp
các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào sổ lệnh. Giá thực
hiện trong phương thức giao dịch liên tục được xác định trên cơ sở mức giá của lệnh
giới hạn đối ứng đang nằm chờ trên sổ lệnh.
Nguyên tắc so khớp lệnh
Các lệnh được so khớp theo thứ tự ưu tiên như sau:
i. Ưu tiên về giá: Các lệnh mua có mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện trước;
các lệnh bán có mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước.
ii. Ưu tiên về thời gian: Đối với các lệnh mua (hoặc lệnh bán) có cùng mức giá thì
lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
Ví dụ 1: Khớp lệnh định kỳ
Giá tham chiếu của cổ phiếu AAA: 50.000 VNĐ; Vào đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá
mở cửa, có các lệnh đặt mua và bán cổ phiếu AAA như sau:
Lệnh mua Lệnh bán
Khối lượng Giá Khối lượng Giá
1.000 B ATO 500 D ATO
600 A 52.000 100 E 51.000
300 G 51.000 900 C 50.500
200 F 50.000
Vào thời điểm khớp lệnh, hệ thống giao dịch tính toán giá khớp lệnh như sau:
- Cộng dồn khối lượng đặt mua và chào bán theo từng mức giá:
Cộng dồn khối lượng đặt mua Đặt mua Giá Đặt bán Cộng dồn khối lượng chào bán
1.000 1000 B ATO 500 D 500+900+100 = 1.500
1.000+600 =1.600 600 A 52.000 500+900+100 = 1.500
1.000+600+300 = 1.900 300 G 51.000 100 E 500+900+100 = 1.500
1.000+600+300 = 1.900 50.500 900 C 500+900 = 1.400
1.000+600+300+200 = 2.100 200 F 50.000 500
Hệ thống giao dịch
Bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 28/7/2000, toàn bộ mọi giao dịch chứng khoán tại Sở
giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (SGDCK TP.HCM) được thực hiện trên một hệ
thống giao dịch khớp lệnh hoàn toàn tự động. Nhà đầu tư đặt lệnh giao dịch thông qua
các công ty chứng khoán là thành viên giao dịch của Sở, sau đó lệnh sẽ được công ty
chuyển vào sàn giao dịch của Sở. Tại sàn giao dịch, đại diện giao dịch của công ty sẽ
nhập lệnh vào hệ thống giao dịch khớp lệnh thông qua các trạm đầu cuối nhập lệnh
được Sở bố trí cho các công ty chứng khoán thành viên.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thị trường, nhằm đáp ứng những thay đổi về nhu cầu
giao dịch của nhà đầu tư, kể từ tháng 1/2009, SGDCK TP. HCM đã đưa hệ thống giao
dịch trực tuyến vào hoạt động. Giao dịch trực tuyến cho phép các công ty chứng khoán
kết nối trực tiếp hệ thống giao dịch của công ty đến hệ thống giao dịch của Sở; nhờ đó,
lệnh của nhà đầu tư được chuyển một cách tự động từ hệ thống của công ty chứng
khoán vào hệ thống giao dịch khớp lệnh. Hoạt động giao dịch trực tuyến đã phát huy
hiệu quả rõ rệt nhờ tác dụng gia tăng tốc độ gửi lệnh từ công ty chứng khoán đến hệ
thống của Sở, cải thiện triệt để tình trạng “thắt nút cổ chai”, góp phần đẩy mạnh tính
thanh khoản của thị trường.
Các lệnh của nhà đầu tư sau khi được nhập vào hệ thống giao dịch của Sở sẽ được so
khớp một cách tự động theo nguyên tắc ưu tiên về (i) giá và (ii) thời gian. Hệ thống giao
dịch còn cho phép thông báo tức thời kết quả khớp lệnh đến công ty chứng khoán thành
viên để công ty chứng khoán nhanh chóng xác nhận kết quả với khách hàng.
Giao dịch khớp lệnh
Căn cứ trên tiến trình thực hiện so khớp lệnh, hệ thống giao dịch tại SGDCK TP. HCM
có hai phương thức giao dịch chính: khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục.
Phương thức khớp lệnh định kỳ là phương thức giao dịch được thực hiện trên cơ sở
so khớp các lệnh mua và bán chứng khoán tại một thời điểm xác định. Phương thức
này cho phép các lệnh sau khi gửi vào hệ thống giao dịch được sắp trên sổ lệnh theo
thứ tự ưu tiên, sau đó sẽ được so khớp tại một thời điểm xác định với một mức giá
khớp lệnh duy nhất cho mỗi loại chứng khoán. Nguyên tắc xác định giá khớp lệnh theo
phương thức này như sau :
1) Là mức giá thực hiện được khối lượng giao dịch lớn nhất.
2) Nếu có nhiều mức giá thỏa mãn mức giá trên thì mức giá trùng hoặc gần với
giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn.
Phương thức khớp lệnh liên tục là phương thức hệ thống giao dịch thực hiện so khớp
các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào sổ lệnh. Giá thực
hiện trong phương thức giao dịch liên tục được xác định trên cơ sở mức giá của lệnh
giới hạn đối ứng đang nằm chờ trên sổ lệnh.
Nguyên tắc so khớp lệnh
Các lệnh được so khớp theo thứ tự ưu tiên như sau:
i. Ưu tiên về giá: Các lệnh mua có mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện trước;
các lệnh bán có mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước.
ii. Ưu tiên về thời gian: Đối với các lệnh mua (hoặc lệnh bán) có cùng mức giá thì
lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
Ví dụ 1: Khớp lệnh định kỳ
Giá tham chiếu của cổ phiếu AAA: 50.000 VNĐ; Vào đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá
mở cửa, có các lệnh đặt mua và bán cổ phiếu AAA như sau:
Lệnh mua Lệnh bán
Khối lượng Giá Khối lượng Giá
1.000 B ATO 500 D ATO
600 A 52.000 100 E 51.000
300 G 51.000 900 C 50.500
200 F 50.000
Vào thời điểm khớp lệnh, hệ thống giao dịch tính toán giá khớp lệnh như sau:
- Cộng dồn khối lượng đặt mua và chào bán theo từng mức giá:
Cộng dồn khối lượng đặt mua Đặt mua Giá Đặt bán Cộng dồn khối lượng chào bán
1.000 1000 B ATO 500 D 500+900+100 = 1.500
1.000+600 =1.600 600 A 52.000 500+900+100 = 1.500
1.000+600+300 = 1.900 300 G 51.000 100 E 500+900+100 = 1.500
1.000+600+300 = 1.900 50.500 900 C 500+900 = 1.400
1.000+600+300+200 = 2.100 200 F 50.000 500
Ví dụ 2: Khớp lệnh liên tục
Vào đợt khớp lệnh liên tục, cổ phiếu BBB có các lệnh đặt mua, đặt bán như sau:
Lệnh mua Lệnh bán
Khối lượng Giá Giá Khối lượng
1.000 A 52.000 55.000 2.000 C
3.000 D 51.000 53.500 3.000 F
1.500 E 50.500 53.500 2.000 B
53.000 9.000 G
(Ghi chú: Thứ tự thời gian của lệnh thể hiện theo thứ tự chữ cái A B C D…)
Lệnh mới: Mua 10.000 cp BBB giá 54.000 VND (lệnh H).
Hệ thống thực hiện khớp lệnh ngay lập tức như sau:
- 9.000 cổ phiếu tại mức giá 53.000 VNĐ (H-G)
- 1.000 cổ phiếu tại mức giá 53.500 VNĐ (H-B)
Sổ lệnh BBB sau đó như sau:
Lệnh
Lệnh mua Lệnh bán
Khối lượng Giá Giá Khối lượng
1.000 A 52.000 55.000 2.000 C
3.000 D 51.000 53.500 3.000 F
1.500 E 50.500 53.500 1.000 B
Giao dịch thỏa thuận
Ngoài phương thức khớp lệnh, hệ thống giao dịch tại SGDCK TP. HCM còn cho phép
các công ty chứng khoán thành viên thực hiện các giao dịch theo phương thức thỏa
thuận.
Theo phương thức giao dịch thỏa thuận, các bên mua bán (hoặc công ty chứng khoán
đại diện bên mua và bán thay mặt khách hàng) thỏa thuận với nhau về các điều kiện
giao dịch. Sau đó, giao dịch sẽ được công ty chứng khoán thành viên bên mua và bán
nhập vào hệ thống giao dịch để ghi nhận kết quả.
Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ: Các giao dịch thỏa thuận phải từ 20.000 đơn vị trở lên.
Đối với trái phiếu: Mọi giao dịch trái phiếu được thực hiện theo phương thức thỏa thuận
(không giao dịch theo phương thức khớp lệnh).
Các giao dịch thỏa thuận phải tuân thủ quy định về biên độ dao động giá trong ngày.
Trong thời gian giao dịch thỏa thuận, các công ty chứng khoán có thể đăng nhập quảng
cáo giao dịch thỏa thuận trên hệ thống giao dịch của Sở để tìm kiếm đối tác.
Lưu ý: SGDCK TP. HCM không cho phép thực hiện giao dịch thỏa thuận đối với cổ
phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư trong ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ
đầu tư đó.
Thời gian giao dịch
SGDCK TP. HCM tổ chức giao dịch chứng khoán từ 9h00 đến 14h15 các ngày thứ Hai
đến thứ Sáu hàng tuần.
Thời gian giao dịch cụ thể như sau:
Phiên Phương thức giao dịch Giờ giao dịch Loại lệnh
Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ
Khớp lệnh định kỳ mở cửa 09:00 - 09:15 Lệnh giới hạn, lệnh ATO
Phiên sáng Khớp lệnh liên tục I 09:15 - 11:30 Lệnh giới hạn
Giao dịch thỏa thuận 09:00 - 11:30
Nghỉ 11:30- 13:00
Khớp lệnh liên tục II 13:00 - 13:45 Lệnh giới hạn
Phiên chiều Khớp lệnh định kỳ đóng cửa 13:45 - 14:00 Lệnh giới hạn, lệnh ATC
Giao dịch thỏa thuận 13:00 - 14:15
Trái phiếu
Phiên sáng Giao dịch thỏa thuận 09:00 - 11:30
Nghỉ 11:30 - 13:00
Phiên chiều Giao dịch thỏa thuận 13:00 - 14:15
Thị trường đóng cửa 14:15
• Trong thời gian nghỉ giữa hai phiên sáng – chiều, Công ty chứng khoán không
được phép:
- Nhập lệnh, sửa, hủy lệnh của giao dịch khớp lệnh;
- Quảng cáo giao dịch thỏa thuận, hủy quảng cáo giao dịch thỏa thuận;
- Thực hiện giao dịch thỏa thuận, hủy giao dịch thỏa thuận.
Đơn vị giao dịch, đơn vị yết giá
Đơn vị giao dịch
a. Lô chẵn:
- Đơn vị giao dịch lô chẵn: 10 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ
- Mỗi lệnh giao dịch lô chẵn không được vượt quá khối lượng tối đa là
19.990 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ.
b. Lô lớn:
- Khối lượng giao dịch lô lớn, lớn hơn hoặc bằng 20.000 cổ phiếu, chứng
chỉ quỹ.
SGDCK Tp.HCM không quy định đơn vị giao dịch đối với giao dịch trái phiếu.
Đơn vị yết giá
- Giao dịch khớp lệnh:
Mức giá Đơn vị yết giá
≤ 49.900 100 đồng
50.000 – 99.500 500 đồng
≥ 100.000 1.000 đồng
- Giaodịch thỏa thuận: Không quy định
Biên độ dao động giá, giá tham chiếu, giá đóng cửa
Biên độ dao động giá
SGDCK TP.HCM cho phép giá giao dịch hàng ngày của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư
được biến động trong phạm vi +/- 5% giá tham chiếu. SGDCK TP.HCM không quy định
biên độ dao động giá đối với trái phiếu.
Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ mới niêm yết, trong ngày giao dịch đầu tiên, SGDCK
TP.HCM cho phép giá giao dịch được biến động trong +/-20% giá giao dịch dự kiến. Tổ
chức niêm yết và công ty chứng khoán làm tư vấn niêm yết (nếu có) phải đưa ra mức
giá giao dịch dự kiến để tính giá tham chiếu cho cổ phiếu, chứng chỉ quỹ trong ngày
giao dịch đầu tiên. Nếu trong 03 ngày giao dịch đầu tiên, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ mới
niêm yết vẫn chưa có giá đóng cửa, tổ chức niêm yết sẽ phải xác định lại giá giao dịch
dự kiến.
Giá trần/sàn
a. Giá trần/sàn là mức giá cao nhất/thấp nhất nằm trong biên độ dao động giá cho
phép trong ngày của một loại chứng khoán.
Giá trần = Giá tham chiếu + (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)
Giá sàn = Giá tham chiếu – (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)
b. Trong trường hợp giá tối đa hoặc giá tối thiểu của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ sau
khi điều chỉnh theo biên độ dao động giá theo quy định tại điểm (a) trên đây bằng
với giá tham chiếu, giá tối đa và giá tối thiểu sẽ được thực hiện điều chỉnh như
sau:
Giá tối đa (Giá trần) điều chỉnh = Giá tham chiếu + một đơn vị yết giá
Giá tối thiểu (Giá sàn) điều chỉnh = Giá tham chiếu - một đơn vị yết giá.
c. Trong trường hợp giá tối thiểu (giá sàn) điều chỉnh quy định tại điểm (b) trên đây
bằng không (0), giá tối đa và giá tối thiểu được điều chỉnh như sau:
Giá tối đa (Giá trần) điều chỉnh = Giá tham chiếu + một đơn vị yết giá
Giá tối thiểu (Giá sàn) điều chỉnh = Giá tham chiếu.
Giá tham chiếu
Giá tham chiếu của cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đang giao dịch là giá đóng cửa
của cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư trong ngày giao dịch gần nhất trước đó.
Trường hợp giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ không được hưởng cổ tức và các quyền
kèm theo, giá tham chiếu vào ngày giao dịch không hưởng quyền được xác định theo
nguyên tắc lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất trước đó điều chỉnh theo giá trị
cổ tức được nhận hoặc giá trị các quyền kèm theo.
Trường hợp tách hoặc gộp cổ phiếu, giá tham chiếu tại ngày giao dịch trở lại được xác
định theo nguyên tắc lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch trước ngày tách, gộp điều
chỉnh theo tỷ lệ tách, gộp cổ phiếu.
Đối với các trường hợp phát hành trái phiếu chuyển đổi (kể cả phát hành cho cổ đông
hiện hữu), phát hành chứng khoán riêng lẻ, chào bán chứng khoán cho nhà đầu tư
không phải là cổ đông hiện hữu, phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho
người lao động trong công ty và các trường hợp phát hành khác không ảnh hưởng đến
quyền của cổ đông hiện hữu, SGDCK TP.HCM sẽ không thực hiện điều chỉnh giá tham
chiếu của chứng khoán vào ngày giao dịch không hưởng quyền (nếu có xác định ngày
giao dịch không hưởng quyền).
Giá đóng cửa
Giá đóng cửa là giá thực hiện tại lần khớp lệnh cuối cùng trong ngày giao dịch của một
mã chứng khoán. Trong trường hợp không có giá thực hiện trong ngày giao dịch, giá
đóng cửa được xác định là giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất trước đó.
Các loại lệnh
Hiện nay, nhà đầu tư được sử dụng các loại lệnh sau đây khi giao dịch tại SGDCK TP.HCM:
Lệnh giới hạn: Là lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc giá tốt
hơn. Lệnh có hiệu lực kể từ khi được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến hết ngày
giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ.
Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh lúc mở cửa (lệnh ATO): Là lệnh mua hoặc bán
chứng khoán tại mức giá khớp lệnh trong đợt xác định giá mở cửa và chỉ có hiệu lực
trong đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa.
Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh lúc đóng cửa (lệnh ATC): Là lệnh mua hoặc bán
chứng khoán tại mức giá khớp lệnh trong đợt xác định giá mở đóng cửa và chỉ có hiệu
lực trong đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa.
Lưu ý: Lệnh ATO/ATC được ưu tiên thực hiện trước lệnh giới hạn trong khi so khớp
lệnh.
Sửa, hủy lệnh
SGDCK TP. HCM không cho phép sửa số hiệu tài khoản của lệnh giao dịch trong suốtthời gian giao dịch.
Trong thời gian khớp lệnh định kỳ: SGDCK TP. HCM không cho phép huỷ lệnh giao dịch
được đặt trong cùng đợt khớp lệnh định kỳ. Nhà đầu tư chỉ được phép hủy các lệnh
hoặc phần còn lại chưa thực hiện của các lệnh được đặt từ lần khớp lệnh định kỳ hoặc
liên tục trước đó.
Trong thời gian khớp lệnh liên tục: SGDCK TP. HCM cho phép hủy lệnh chưa được
thực hiện hoặc phần còn lại của lệnh chưa được thực hiện.
Đối với giao dịch thỏa thuận:
Giao dịch thỏa thuận trên hệ thống giao dịch không được phép hủy bỏ
Quy định giao dịch đối với nhà đầu tư
a. Nhà đầu tư chỉ được phép mở một tài khoản giao dịch tại mỗi công ty chứng khoán.b. Nhà đầu tư được thực hiện các giao dịch ngược chiều (mua, bán) cùng một loại
chứng khoán trong ngày giao dịch, khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Sử dụng một tài khoản mở tại một công ty chứng khoán để thực hiện cả lệnh mua
và bán;
- Chỉ được mua (hoặc bán) một loại chứng khoán nếu lệnh bán (hoặc lệnh mua)
của chứng khoán cùng loại trước đó đã được thực hiện và lệnh giao dịch phải đáp
ứng yêu cầu tỷ lệ ký quỹ theo quy định của pháp luật.
c. Nhà đầu tư không được phép:
- Thực hiện giao dịch mà không dẫn đến việc thay đổi quyền sở hữu chứng khoán;
- Đồng thời đặt lệnh mua và bán cùng một loại chứng khoán trong từng lần khớp
lệnh trên cùng một tài khoản hoặc các tài khoản khác nhau mà nhà đầu tư đứng tên
sở hữu
Các ký hiệu giao dịch
Một số ký hiệu giao dịch đang được sử dụng trên các phương tiện công bố thông tin củaSGDCK TP.HCM:
Ký hiệu trạng thái chứng khoán:
Ký hiệu Ý nghĩa
P Chứng khoán giao dịch bình thường
H Chứng khoán bị tạm ngừng giao dịch không quá 1 phiên giao dịch
SP Chứng khoán bị ngừng giao dịch từ 2 phiên giao dịch trở lên
C Chứng khoán thuộc diện bị kiểm soát
X Chứng khoán bị hủy niêm yết
Ký hiệu Ý nghĩa
XD Giao dịch không hưởng cổ tức
XR Giao dịch không hưởng quyền kèm theo
XA Giao dịch không hưởng cổ tức và quyền kèm theo
XI Giao dịch không hưởng lãi trái phiếu.
Thời gian thanh toán
Các giao dịch chứng khoán tại SGDCK TP. HCM được thanh toán theo phương thức vàthời gian như sau:
Loại giao dịch Phương thức thanh toán
Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư
Khớp lệnh và thỏa thuận Bù trừ đa phương, ngày thanh toán T+3
Trái phiếu Bù trừ đa phương, ngày thanh toán T+1
Chỉ số Vn Index, VN30
Chỉ số VNIndex thể hiện xu hướng biến động giá các cổ phiếu giao dịch tại SGDCK
TP.HCM. Chỉ số VNIndex so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ sở
vào ngày gốc 28/07/2000, ngày đầu tiên thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt
động. Giá trị thị trường cơ sở trong công thức tính chỉ số được điều chỉnh trong các
trường hợp như niêm yết mới, huỷ niêm yết và các trường hợp có thay đổi về vốn niêm
yết.
Công thức tính chỉ số VNIndex:
Chỉ số Vn Index, VN30
Chỉ số VNIndex thể hiện xu hướng biến động giá các cổ phiếu giao dịch tại SGDCK
TP.HCM. Chỉ số VNIndex so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ sở
vào ngày gốc 28/07/2000, ngày đầu tiên thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt
động. Giá trị thị trường cơ sở trong công thức tính chỉ số được điều chỉnh trong các
trường hợp như niêm yết mới, huỷ niêm yết và các trường hợp có thay đổi về vốn niêm
yết.
Công thức tính chỉ số VNIndex:
Chỉ số VNIndex = (Giá trị thị trường hiện hành / Giá trị thị trường cơ sở) x 100
= X 100
Trong đó: Pit: Giá thị trường hiện hành của cổ phiếu i
Qit: Số lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu i
Pio: Giá thị trường vào ngày gốc của cổ phiếu i
Qio: Số lượng niêm yết vào ngày gốc của cổ phiếu i
I= 1,…,n
Chỉ số VN30 :
Chỉ số VN30 được tính toán dựa trên phương pháp giá trị vốn hóa thị trường có điều
chỉnh tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng ( sau đây gọi là tỷ lệ free-float)
Công thức tính chỉ số VN30:
Trong đó :
CMV ( Current market value)
Index =
Giá trị vốn hóa thị trường hiện tại (CMV)
Giá trị vốn hóa thị trường cơ sở (BMV)
- n : số cổ phiếu trong rổ tính chỉ số
- pi : giá của cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính toán
- si : khối lượng đang lưu hành của cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính
toán
- fi : tỷ lệ free-float của cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính toán
- ci : giới hạn tỷ trọng vốn hóa của cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính
toán
BMV ( Base market value) hay còn gọi là hệ số chia, được điều chỉnh nhằm loại trừ
những thay đổi về khối lượng và giá cổ phiếu ảnh hưởng đến chỉ số.
2. Giao dịch chứng khoán của người đầu tư nước ngoài
Theo quy định hiện hành, nhà đầu tư nước ngoài được phép sở hữu tối đa 49% tổng sốcố phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư của một công ty niêm yết, quỹ đầu tư chứng khoán.
Trường hợp tỷ lệ sở hữu của bên nước ngoài được phân loại theo danh mục ngành
nghề cụ thể thì áp dụng theo danh mục phân loại.
Đối với trái phiếu, tổ chức phát hành quy định giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu
lưu hành của tổ chức phát hành.
Căn cứ theo các quy định hiện hành, hệ thống giao dịch kiểm soát và công bố khối
lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài còn được phép mua
(Current Room) theo nguyên tắc:
Trong thời gian giao dịch khớp lệnh:
- Khối lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư mua của nhà đầu tư nước ngoài
được trừ vào khối lượng còn được phép mua ngay sau khi lệnh mua được thực
hiện; khối lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư bán của nhà đầu tư nước ngoài
được cộng vào khối lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư còn được phép mua
ngay sau khi kết thúc việc thanh toán giao dịch.
- Lệnh mua hoặc một phần lệnh mua cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư của nhà đầu
tư nước ngoài chưa được thực hiện sẽ tự động bị hủy nếu khối lượng cổ phiếu,
chứng chỉ quỹ đầu tư còn được phép mua đã hết và lệnh mua được nhập tiếp
vào hệ thống giao dịch sẽ không được chấp nhận.
Trong thời gian giao dịch thỏa thuận:
- Khối lượng chứng khoán còn được phép mua của nhà đầu tư nước ngoài sẽ
được giảm xuống ngay sau khi giao dịch thỏa thuận được thực hiện nếu giao
dịch đó là giữa một nhà đầu tư nước ngoài mua với một nhà đầu tư trong nước
bán.
- Khối lượng chứng khoán còn được phép mua của nhà đầu tư nước ngoài sẽ
được tăng lên ngay sau khi kết thúc việc thanh toán giao dịch nếu giao dịch đó là
giữa một nhà đầu tư nước ngoài bán với một nhà đầu tư trong nước mua.
- Khối lượng chứng khoán còn được phép mua của nhà đầu tư nước ngoài sẽ
không thay đổi nếu giao dịch thỏa thuận được thực hiện giữa hai nhà đầu tư
nước ngoài với nhau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét