Thứ Tư, 28 tháng 11, 2012

Chương 1: Tong QUan  SU Phat Triển của Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
tiết 1: Thị Trường CK là gì
tiết 2: Hình thành và hệ thống TTCK
tiết 3Lichj sử phát triển TTCK
Chương 2 : chế dộ giao dịch và nét đặc chưng của TTCK việt Nam
tiết 1: cơ chế giao dịch của thị trường
tiết 1:những đặc thù cue TTCK Việt Nam
tieets3: những vấn đề tồn tại
tiết 4 rủi ro tiềm ẩn của TTCK việt nam
 Chương 3: Một số phương án thúc đẩy TTCK  phát triển tốt hơn.

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2012

huyệt dũng tuyền


Y học phương Đông có khuyên người đàn ông khi quan hệ vợ chồng nên dùng ngón tay kích thích mạnh vào một điểm ở lòng bàn chân của người đàn bà. Vì sao?
Tam tài huyệt
Theo cổ nhân, việc tác động vào vị trí huyệt dũng tuyền ở lòng bàn chân sẽ có công dụng rất hay trong việc nâng cao năng lực tính dục của cả nam và nữ. Không chỉ có vậy, việc kích thích thường xuyên và đúng cách vào huyệt vị đặc biệt này còn có công dụng bảo vệ và tăng cường sức khỏe về cả tinh thần và thể chất.
Dũng tuyền là một trong 27 huyệt vị châm cứu nằm trên đường kinh túc thiếu âm thận, được coi là một trong tam tài huyệt: bách hội (thiên) gọi là thiên tài, chiên trung (nhân) gọi là nhân tài và dũng tuyền (địa) gọi là địa tài. "Dũng" có nghĩa là vọt ra, tràn lên, còn "tuyền" là suối, là nguồn. Dũng tuyền ý muốn nói huyệt nằm dưới lòng bàn chân như một dòng suối, đồng thời lại là nơi tàng chứa chân dương ở phía dưới của tạng thận. Thận chủ thủy nên nơi đây tựa như một "nguồn nước chảy vọt ra, tràn đầy sức sống". Huyệt vị này còn có nhiều tên khác như địa xung, quyết tâm, địa cù..., được ghi lại sớm nhất trong thiên bản du sách linh khu.
Có hai cách xác định vị trí huyệt dũng tuyền: co bàn chân và các ngón chân lại, chỗ hõm xuất hiện ngay ở 1/3 trước gan bàn chân chính là vị trí của huyệt; hoặc huyệt nằm ở lòng bàn chân, tại điểm nối 2/5 trước và 3/5 sau của đoạn nối đầu ngón chân 2 và điểm giữa bờ sau gót chân, trong chỗ lõm ở gan bàn chân (ảnh). Mỗi ngày cần day ấn 2 lần, tốt nhất là buổi tối trước khi ngủ và sáng sớm khi vừa tỉnh giấc, dùng hai tay xát nhẹ hai gan bàn chân chừng 2 phút cho nóng lên là được (nếu ngâm chân chừng mươi phút bằng nước muối ấm thì càng tốt). Sau đó dùng hai ngón tay cái cùng lúc day ấn huyệt dũng tuyền cả hai bên trong 2 phút với một lực tương đối mạnh, sao cho đạt cảm giác tê tức lan sâu vào bên trong gan bàn chân. Cũng có thể dùng các vật cứng như đầu đũa, cán bút... để day ấn hoặc đặt vị trí huyệt lên viên sỏi hay các vật tương tự để kích thích. Cần day đều đặn.
Công dụng
Có công dụng tỉnh thần khai khiếu, giáng nghịch chỉ ẩu, thanh tâm tả nhiệt, hồi dương cứu nghịch, thường được cổ nhân dùng để chữa các chứng bệnh như: đau nhức, nóng hay lạnh gan bàn chân, chuột rút bàn chân (chữa tại chỗ); đau mặt trong đùi, đau đỉnh đầu, thoát vị, đau sưng họng, đẻ xong không tiểu được, chảy máu mũi, tim đập nhanh... (thần kinh); và chữa toàn thân như hoa mắt chóng mặt, hôn mê, chết đuối, trúng nắng, trúng gió, động kinh, mất ngủ, tiêu khát.
Nghiên cứu lâm sàng hiện đại cho thấy, việc tác động đơn độc lên huyệt dũng tuyền bằng nhiều phương thức khác nhau có tác dụng chữa trị khá nhiều chứng bệnh như ho kéo dài (dùng bột thuốc đông y đắp vào huyệt), viêm phế quản mạn tính (dán thuốc đông y vào huyệt), ho ra máu (thủy châm atropin vào huyệt), mất ngủ (cứu điếu ngải lên huyệt), đau đầu (châm dũng tuyền xuyên sang huyệt thái xung)...

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012

Dũng cảm của tình yêu


Dũng cảm của tình yêu



Sợ không là gì ngoài việc thiếu tình yêu. Làm điều gì đó với tình yêu, quên sợ đi. Nếu bạn yêu sâu sắc, sợ biến mất. 

Nếu bạn yêu sâu sắc, bạn không tìm được sợ hãi đâu. Sợ là cái phủ định của yêu, việc thiếu tình yêu. Điều này phải được hiểu rất, rất sâu sắc. Nếu bạn lỡ ở đó, bạn sẽ không bao giờ có khả năng hiểu được bản chất của sợ hãi. Nó giống như bóng tối. Bóng tối không tồn tại, nó chỉ dường như hiện hữu thôi. Thực tế nó là việc thiếu ánh sáng. Ánh sáng tồn tại; bỏ ánh sáng đi - có bóng tối. 

Bóng tối không tồn tại, bạn không thể bỏ bóng tối đi được. Làm bất kì cái gì bạn muốn làm, bạn cũng chẳng thể nào bỏ được bóng tối đi. Bạn không thể đem nó tới, bạn không thể vứt nó đi. Nếu bạn muốn làm điều gì đó với bóng tối, bạn sẽ phải làm cái gì đó với ánh sáng, bởi vì chỉ cái gì đó có sự tồn tại mới có thể được đặt quan hệ với. Tắt đèn đi, bóng tối có đó; bật đèn lên, bóng tối không có đó - nhưng bạn làm điều gì đó với ánh sáng. Bạn không thể làm được cái gì với bóng tối. 

Sợ hãi là bóng tối. Nó là việc thiếu tình yêu. Bạn không thể làm bất kì cái gì về nó được, và bạn càng làm nhiều, bạn sẽ càng trở nên sợ hãi hơn bởi vì thế thì bạn sẽ càng thấy nó là không thể được hơn. Vấn đề sẽ ngày một trở nên phức tạp. Nếu bạn tranh đấu với bóng tối bạn sẽ bị thất bại. Bạn có thể mang gươm và cố gắng giết bóng tối: bạn sẽ chỉ kiệt sức. Và chung cuộc tâm trí sẽ nghĩ, "Bóng tối mạnh thế, đó là lí do mình thất bại." 

Đây là chỗ logic đi sai. Nó tuyệt đối logic - nếu bạn đã từng vật lộn với bóng tối và bạn không thể nào đánh bại được nó, không thể nào phá huỷ được nó, thì điều tuyệt đối logic là đi tới kết luận rằng "Bóng tối là rất, rất mạnh. Mình bất lực trước nó." Nhưng thực tại lại chính là điều đối lập. Bạn không bất lực, bóng tối bất lực. Thực tế bóng tối không có đó - đó là lí do tại sao bạn không thể đánh bại được nó. Làm sao bạn có thể đánh bại được cái gì đó không hiện hữu? 

Đừng tranh đấu với sợ hãi; bằng không bạn sẽ trở nên ngày một sợ hơn và sợ hãi mới sẽ đi vào trong con người bạn: đó là nỗi sợ về cái sợ, điều rất nguy hiểm. Ngay điều đầu tiên sợ hãi là sự thiếu, và điều thứ hai nỗi sợ cái sợ là nỗi sợ của việc thiếu cái thiếu. 

Thế thì bạn vào nhà thương điên thôi! Sợ không là gì ngoài thiếu tình yêu. Làm điều gì đó với tình yêu, quên sợ đi. Nếu bạn yêu sâu sắc, sợ biến mất. Nếu bạn yêu sâu sắc, bạn không tìm thấy sợ hãi. 

Bất kì khi nào bạn trong tình yêu với ai đó, cho dù một khoảnh khắc thôi, có sợ hãi nào không? Nó chưa bao giờ được tìm thấy trong bất kì mối quan hệ nào nơi mà, cho dù một khoảnh khắc thôi hai người đang trong tình yêu sâu sắc và sự gặp gỡ xảy ra, họ hài hoà lẫn nhau - trong khoảnh khắc đó sợ hãi không bao giờ được tìm thấy. Cũng như nếu đèn được bật lên và bóng tối không thể được tìm thấy - có chìa khoá bí mật đấy: yêu nhiều hơn đi. 

Nếu bạn cảm thấy có sợ trong con người mình, yêu nhiều hơn đi. Dũng cảm trong tình yêu, nhận lấy dũng cảm. Mang tính phiêu lưu trong tình yêu; yêu nhiều hơn, và yêu vô điều kiện, bởi vì bạn càng yêu nhiều thì sợ hãi sẽ càng ít hơn. 

Và khi tôi nói yêu tôi ngụ ý tất cả bốn tầng của yêu, từ dục tới samadhi. 

Yêu sâu sắc vào. 

Nếu bạn yêu sâu sắc trong mối quan hệ dục, nhiều sợ hãi sẽ biến mất khỏi thân thể. Nếu thân thể bạn run rẩy trong sợ hãi, đó là nỗi sợ của dục; bạn đã không trong mối quan hệ dục sâu sắc. Thân thể bạn run rẩy, thân thể bạn không thoải mái, không như ở nhà. 

Yêu sâu sắc - cực thích dục sẽ xua đuổi mọi sợ hãi khỏi thân thể. Khi tôi nói nó sẽ xua đi mọi sợ hãi tôi không ngụ ý rằng bạn sẽ trở nên bạo dạn, bởi vì người bạo dạn không là gì ngoài kẻ hèn nhát lộn ngược. Khi tôi nói mọi sợ hãi sẽ biến mất tôi ngụ ý sẽ không có tính hèn nhát và không có tính bạo dạn. Đó là hai khía cạnh của sợ hãi. 

Nhìn người bạo dạn: bạn sẽ thấy rằng sâu bên trong họ đều sợ sệt, họ đã tạo ra chỉ áo giáp quanh mình. Bạo dạn không phải là vô sợ hãi, nó là sợ hãi được bảo vệ chắc, được phòng bị chắc, được bọc sắt. 

Khi sợ hãi biến mất bạn trở thành vô sợ hãi. Và người vô sợ hãi là người không bao giờ tạo ra nỗi sợ trong bất kì ai, và là người không bao giờ cho phép bất kì ai tạo ra nỗi sợ trong mình. 

Cực thích dục sâu sắc cho thân thể trạng thái như ở nhà. Lành mạnh rất, rất sâu sắc xảy ra trong thân thể bởi vì thân thể cảm thấy cái toàn thể. 

Thế rồi bước thứ hai là yêu. Yêu mọi người - vô điều kiện. Nếu bạn có điều kiện nào đó trong tâm trí, bạn sẽ không bao giờ có thể yêu được; những điều kiện đó sẽ trở thành rào chắn. 

Bởi vì yêu là có ích lợi cho bạn, sao lại bận tâm tới điều kiện? Nó ích lợi thế, nó là sự hiện hữu tốt lành sâu sắc thế - yêu vô điều kiện đi, đừng đòi hỏi cái gì đáp lại cả. Nếu bạn có thể đi tới hiểu biết rằng chỉ bằng việc yêu mọi người, bạn trưởng thành trong vô sợ hãi, bạn sẽ yêu vì niềm vui vô cùng của nó! 

Người thường chỉ yêu khi các điều kiện của họ được thoả mãn. Họi nói, bạn phải giống thế này, chỉ thế thì tôi mới yêu. Mẹ nói với con, mẹ chỉ yêu con nếu con cư xử phải phép. Vợ nói với chồng, anh phải theo cách này, chỉ thế thì em mới có thể yêu anh được. Mọi người đều tạo ra điều kiện; tình yêu biến mất. 

Nếu thân thể bạn run rẩy trong sợ hãi, đó là nỗi sợ của dục; bạn đã không trong mối quan hệ dục sâu sắc. Thân thể bạn run rẩy, thân thể bạn không thoải mái, không như ở nhà.

Tình yêu là bầu trời vô hạn! Bạn không thể ép nó vào không gian chật hẹp, có điều kiện, bị giới hạn. Nếu bạn đem không khí trong lành vào nhà mình rồi đóng cửa lại ở mọi chỗ - tất cả các cửa sổ đều đóng lại, tất cả các cửa ra vào đều đóng lại - chẳng mấy chốc nó trở thành tù đọng. Bất kì khi nào tình yêu xảy ra nó đều là một phần của tự do; thế rồi chẳng mấy chốc bạn đem không khí tươi tắn đó vào trong nhà và mọi thứ trở thành tù đọng, bẩn thỉu. 

Đây là vấn đề sâu sắc cho toàn thể nhân loại - nó đã từng là vấn đề cho tới giờ. Khi bạn yêu mọi thứ đều có vẻ đẹp, bởi vì trong những khoảnh khắc đó bạn không đặt điều kiện nào. Hai người tới gần nhau một cách vô điều kiện. Một khi họ đã ổn định cuộc sống, một khi họ đã bắt đầu coi nhau như được cho không, thì điều kiện được áp đặt: "Anh phải giống thế này, anh phải cư xử như thế kia - chỉ thế thì em mới yêu" - cứ dường như tình yêu là thứ mặc cả. 

Khi bạn không yêu từ sự tràn đầy của trái tim, bạn đang mặc cả. Bạn muốn buộc người khác làm cái gì đó cho bạn, chỉ thế thì bạn mới yêu; bằng không bạn sẽ phản bội lại tình yêu của mình. Bây giờ bạn đang dùng tình yêu của mình như sự trừng phạt, hay như sự ép buộc, nhưng bạn không yêu. Hoặc bạn cố gắng kìm nén tình yêu của mình hoặc bạn đem cho tình yêu của mình, nhưng trong cả hai trường hợp tình yêu trong bản thân nó không phải là mục đích, mà là cái gì đó khác. 

Nếu bạn là chồng, bạn đem quà về cho vợ - cô ấy hạnh phúc, cô ấy bám lấy bạn, hôn bạn; nhưng khi bạn không đem cái gì về nhà thì có khoảng cách; cô ấy không bám bạn, cô ấy không tới gần bạn. Khi bạn làm những điều như vậy bạn quên mất rằng khi bạn yêu đó là ân huệ cho bạn, không chỉ cho người khác. 

Điều đầu tiên, việc yêu giúp cho người yêu. Điều thứ hai, nó giúp cho người được yêu. 

Và như tôi thấy nó... mọi người tới tôi, họ bao giờ cũng nói, "Người kia không yêu tôi." Chẳng ai tới và nói, "Tôi không yêu người kia." Yêu đã trở thành một yêu cầu: "Người kia không yêu tôi." Quên người kia đi! Yêu là hiện tượng tuyệt vời thế, nếu bạn yêu, bạn sẽ tận hưởng. 

Và bạn càng yêu, bạn càng trở nên đáng yêu hơn. Bạn càng ít yêu và bạn càng đòi hỏi rằng người khác phải yêu bạn, và bạn ngày càng ít đáng yêu hơn, bạn ngày càng trở nên khép kín hơn, bị hạn chế vào bản ngã mình. Và bạn trở thành hay tự ái - cho dù ai đó có tiếp cận bạn để yêu bạn, bạn cũng trở nên sợ, bởi vì trong mọi tình yêu đều có khả năng bác bỏ, rút lui. 

Không ai yêu bạn - điều này đã trở nên ăn sâu vào bên trong bạn. Làm sao người này lại cố gắng thay đổi tâm trí bạn được? Người đó đang cố gắng yêu bạn sao? - phải có cái gì đó giả tạo rồi, người đó có đang định lừa dối bạn không? Phải là một người tinh ranh đây, gian xảo đây. Bạn tự bảo vệ mình. Bạn không cho phép bất kì ai yêu bạn và bạn không yêu người khác. Thế thì có sợ hãi. Thế thì bạn một mình trong thế giới, một mình thế, đơn độc thế, không được nối liền.

Vậy sợ hãi là gì? Sợ hãi là cảm giác về không tiếp xúc với sự tồn tại. Để đây là định nghĩa về sợ hãi: trạng thái không tiếp xúc với sự tồn tại là sợ hãi. Bạn bị bỏ lại một mình, đứa trẻ kêu khóc trong nhà, mẹ và bố và cả gia đình đi xem hát. Đứa trẻ kêu và khóc trong chiếc nôi. Bị bỏ lại một mình không tiếp xúc, không ai bảo vệ, không ai cho sự an ủi, không ai yêu; đơn độc, đơn độc bao la khắp xung quanh. Đây là trạng thái của sợ hãi. 

Điều này xảy tới bởi vì bạn được nuôi lớn theo cách bạn không cho phép tình yêu xảy ra. Toàn thể nhân loại đã được huấn luyện về những thứ khác, không về tình yêu. Giết người, chúng ta đã được huấn luyện. Và quân đội tồn tại, nhiều năm huấn luyện giết người! Tính toán, chúng ta đã được huấn luyện; các trường cao đẳng, đại học tồn tại, nhiều năm huấn luyện chỉ để tính toán sao cho không ai có thể lừa được bạn và bạn thì có thể lừa được người khác. 

Nhưng không ở đâu có cơ hội nào sẵn đấy để bạn được phép yêu - và yêu trong tự do. Thực tế, không chỉ có thế, xã hội đã ngăn cản mọi nỗ lực để yêu. Bố mẹ không thích con cái họ yêu. Không ông bố nào thích điều đó, không bà mẹ nào thích điều đó; dù đòi hỏi của họ là bất kì cái gì thì không người bố nào, không người mẹ nào lại thích con mình yêu cả. Họ thích hôn nhân được thu xếp. 

Sợ hãi là cảm giác về không tiếp xúc với sự tồn tại. Để đây là định nghĩa về sợ hãi: trạng thái không tiếp xúc với sự tồn tại là sợ hãi.

Tại sao? Bởi vì một khi một thanh niên yêu một phụ nữ hay một cô gái, anh ta đang rời khỏi gia đình; anh ta đang tạo ra một gia đình mới, gia đình của riêng mình. Tất nhiên anh ta chống lại gia đình cũ, anh ta nổi dậy, anh ta đang nói, "Bây giờ tôi đi đây, tôi sẽ tạo ra gia đình riêng của mình." Và anh ta chọn người đàn bà riêng của mình; người bố chẳng liên quan gì tới điều đó, người mẹ chẳng liên quan gì tới điều đó, họ dường như bị cắt rời hẳn. 

Không, họ muốn thu xếp cho điều đó: "Con tạo ra gia đình, nhưng để chúng ta thu xếp cho điều đó, để cho chúng ta có lời nói trong đó chứ. Và đừng có yêu - bởi vì khi con yêu, tình yêu trở thành cả thế giới." 

Nếu nó là hôn nhân được thu xếp, nó chỉ là vấn đề xã hội thôi, con không trong tình yêu, vợ con không phải là toàn thể thế giới của con, chồng con không phải là toàn thể thế giới của con. Cho nên bất kì khi nào hôn nhân được thu xếp còn tiếp tục thì gia đình còn tiếp tục. Và bất kì khi nào hôn nhân vì tình đã đi vào hiện hữu, gia đình biến mất. 

Ở phương Tây gia đình đang biến mất. Bây giờ bạn có thể thấy toàn thể logic của việc tại sao lại có hôn nhân được thu xếp: gia đình muốn tồn tại. Nếu bạn bị phá huỷ, nếu chính khả năng yêu của bạn bị phá huỷ, điều đó không thành vấn đề; bạn phải bị hi sinh vì gia đình. Nếu hôn nhân được thu xếp thì gia đình chung tồn tại. Thế thì trong một gia đình một trăm người có thể sống được - nếu hôn nhân được thu xếp. Nhưng nếu đứa con trai nào đó lại yêu hay đứa con gái nào đó lại yêu, thế thì tự chúng trở thành một thế giới. Chúng muốn đi một mình, chúng muốn tính riêng tư của mình. Chúng không muốn một trăm người xung quanh, bác rồi bác của bác và anh họ rồi anh họ của anh họ và... chúng không muốn toàn thể cái chợ này xung quanh; chúng muốn có thế giới riêng của mình. Cái toàn thể này dường như quấy rối. 

Gia đình chống lại tình yêu. Bạn phải đã nghe nói rằng gia đình là cội nguồn của tình yêu, nhưng tôi bảo bạn: gia đình chống lại tình yêu. Gia đình đã tồn tại bằng việc giết chết tình yêu, nó không cho phép tình yêu xảy ra. 

Xã hội không cho phép tình yêu bởi vì nếu một người thực sự trong tình yêu sâu sắc thì người đó không thể bị thao túng. Bạn không thể đẩy người đó vào chiến tranh; người đó sẽ nói, "Tôi hạnh phúc thế ở nơi tôi đang sống đây! Các ông đưa tôi đi đâu vậy?

Và sao tôi lại phải đi và giết người lạ, người có thể hạnh phúc trong gia đình họ? Và chúng tôi đâu có xung đột, không va chạm quyền lợi..." 

Nếu thế hệ trẻ đi ngày càng sâu vào tình yêu, chiến tranh sẽ biến mất bởi vì bạn sẽ không có khả năng tìm ra đủ người điên đi vào chiến tranh. Nếu bạn yêu, bạn đã nếm trải cái gì đó của cuộc sống; bạn sẽ không thích chết và giết người. Khi bạn không yêu bạn không nếm trải điều gì đó của cuộc sống; bạn yêu cái chết. 

Sợ hãi giết hại, muốn giết hại. Sợ hãi mang tính huỷ diệt, tình yêu là năng lượng sáng tạo. Khi bạn yêu bạn muốn sáng tạo - bạn có thể thích hát bài ca, hay vẽ, hay sáng tác thơ, nhưng bạn sẽ không cầm lưỡi lê, hay bom nguyên tử, và điên cuồng xông ra giết những người bạn hoàn toàn chẳng biết gì, người đã chẳng làm gì; những người bạn không biết tới cũng như bạn chẳng biết gì về họ cả. 

Thế giới sẽ vứt bỏ chiến tranh chỉ khi tình yêu đi vào trong thế giới này lần nữa. Các chính khách không muốn bạn yêu, xã hội không cho phép bạn yêu. Họ tất cả đều muốn kiểm soát năng lượng của bạn bởi vì đó là năng lượng duy nhất có đó. Đó là lí do tại sao lại có sợ hãi. 

Nếu bạn hiểu rõ tôi, vứt bỏ mọi sợ hãi và yêu nhiều hơn đi - và yêu vô điều kiện. Đừng nghĩ rằng bạn đang làm điều gì đó cho người khác khi bạn yêu; bạn đang làm điều gì đó cho bản thân mình đấy. Khi bạn yêu nó là ích lợi cho bạn. Cho nên đừng chờ đợi; đừng nói rằng khi người khác yêu, bạn sẽ yêu - điều đó không thành vấn đề chút nào. 

Cứ vị kỉ. Yêu là nghĩ tới ích lợi cho mình. Yêu mọi người - bạn sẽ được hoàn thành qua nó, bạn sẽ ngày một được phúc lạc hơn qua nó. 

Và khi tình yêu đi sâu hơn, sợ hãi biến mất; yêu là ánh sáng, sợ là bóng tối. Và thế rồi có giai đoạn thứ ba của yêu - nguyện. Nhà thờ, các tôn giáo, các giáo phái có tổ chức - họ dạy bạn lời nguyện. Nhưng thực tế họ cản trở bạn không cho lời nguyện vì nguyện là hiện tượng tự phát, nó không thể được dạy. Nếu bạn đã được dạy từ thời thơ ấu, bạn đã bị ngăn cản không cho kinh nghiệm đẹp có thể đã xảy ra. Nguyện là hiện tượng tự phát. 

Cứ vị kỉ. Yêu là nghĩ tới ích lợi cho mình. Yêu mọi người - bạn sẽ được hoàn thành qua nó, bạn sẽ ngày một được phúc lạc hơn qua nó. Và khi tình yêu đi sâu hơn thì sợ hãi biến mất; yêu là ánh sáng, sợ là bóng tối.

Tôi phải kể cho bạn một câu chuyện tôi thích. Leo Tolstoy đã viết một câu chuyện nhỏ: Ở một phần nào đó của nước Nga cổ có một cái hồ, và nó đã trở nên nổi tiếng bởi vì ba vị thánh. Cả nước trở nên quan tâm. Hàng nghìn người tới, du hành tới cái hồ này để gặp ba vị thánh đó. 

Linh mục cấp cao của đất nước trở nên e ngại: Chuyện gì xảy ra thế nhỉ? Ông ta chưa bao giờ nghe nói tới những 'vị thánh' này và họ chưa bao giờ được nhà thờ xác nhận cả; ai đã phong họ thành thánh? Người Ki tô giáo đã từng làm - một trong những điều ngu xuẩn nhất - họ cho xác nhận: “Người này là thánh.” Cứ dường như bạn có thể làm một người thành thánh bằng việc xác nhận người đó! 

Nhưng mọi người ào ào đổ tới, và nhiều tin mới lại đưa tới rằng phép màu đã xảy ra, cho nên linh mục này phải đi để xem tình hình là như thế nào. Ông ta đi thuyền ra đảo mà ba người nghèo này đang sống; họ chỉ là những người nghèo thôi, nhưng rất hạnh phúc - bởi vì chỉ có một nghèo nàn thôi và nghèo nàn đó là trái tim không thể yêu. Họ nghèo, nhưng họ lại giầu, người giầu nhất bạn có thể tìm được. 

Họ hạnh phúc ngồi dưới gốc cây cười đùa, tận hưởng, sung sướng. Thấy linh mục họ cúi đầu chào, còn linh mục nói, “Các ông làm gì ở đây vậy? Có những tin đồn rằng các ông là những vị thánh vĩ đại. 

Các ông có biết cách cầu nguyện không?” - bởi vì thấy ba người này viên linh mục có thể cảm nhận ngay rằng họ đều hoàn toàn thất học, vô giáo dục, có chút ít ngu xuẩn - hạnh phúc nhưng ngu xuẩn. 

Thế là họ nhìn nhau rồi họ nói, “Rất tiếc thưa ngài, chúng tôi không biết lời cầu nguyện đúng được phép của nhà thờ bởi vì chúng tôi dốt nát. Nhưng chúng tôi đã tạo ra lời cầu nguyện của riêng mình - nó là do con người làm ra. Nếu ông không cảm thấy bị xúc phạm thì chúng tôi có thể trình nó cho ông.” 

Thế là linh mục nói, “Được, trình diễn nó cho ta xem, các ông đang làm cầu nguyện gì.” Thế là họ nói, “Chúng tôi đã cố gắng và nghĩ hoài - nhưng chúng tôi không phải là những nhà tư tưởng lớn, chúng tôi là những người ngu, dân làng dốt nát. Thế rồi chúng tôi quyết định một lời nguyện đơn giản. Trong Ki tô giáo, 

Thượng đế được quan niệm là ba ngôi, ba người: Thượng đế Cha, Con và Thánh Thần. Và chúng tôi cũng có ba người. Cho nên chúng tôi quyết định lời nguyện: ‘Ngài ba, chúng tôi ba, nhân từ với chúng tôi.’ Đây là lời nguyện của chúng tôi: 'Chúng tôi ba, ngài cũng ba, nhân từ với chúng tôi.'” 

Linh mục rất, rất giận, giận lắm gần phát rồ. Ông ta nói, “Vô nghĩa làm sao! Chúng ta chưa bao giờ nghe thấy bất kì lời cầu nguyện nào như thế này. Dừng nó lại ngay! Theo cách này các ông không thể là thánh được. Các ông đơn giản ngu si.” Họ cúi rạp mình dưới chân ông ta và họ nói, “Xin ông dạy cho chúng tôi lời cầu nguyện thực, đích thực đi.” 

Thế là ông ta nói cho họ phiên bản có thẩm quyền của Nhà thờ chính thống Nga. Nó dài lắm, rắc rối phức tạp lắm; toàn những từ đao to búa lớn, khoa trương. Ba người kia nhìn lẫn nhau - điều đó dườngnhư là không thể được, cánh cửa trời đã đóng lại với họ. Họ nói, “Xin ông nói lại cho chúng tôi một lần nữa, vì nó dài thế, mà chúng tôi thì vô giáo dục.” Ông ta lại nói lại nó. Ông ta nói, “Thêm một lần nữa nhé các ngài, bởi vì tôi sẽ quên mất, và cái gì đó sẽ đi sai.” 

Thế là lần nữa ông ấy nói lại nó. Họ cám ơn ông ta một cách thành tâm và ông ta cảm thấy rất tự hào rằng mình đã làm được một hành vi tốt, và đã mang ba kẻ ngốc ngày trở về với nhà thờ. 

Ông ta giương buồm con thuyền mình ra đi. Ngay giữa hồ ông ấy không thể nào tin được vào mắt mình - ba người kia, ba người ngu kia, đang chạy trên nước! Họ nói, “Hãy đợi đã... thêm một lần nữa đi... chúng tôi đã quên mất rồi!” 

Bây giờ điều này không thể nào tin được! Linh mục cúi rạp mình dưới chân họ và ông ta nói, “Tôi xin lỗi. Các ông cứ tiếp tục lời cầu nguyện của mình đi.” 

Năng lượng yêu thứ ba là nguyện. Các tôn giáo, các nhà thờ có tổ chức, đã phá huỷ nó. Họ đã trao cho bạn lời nguyện làm sẵn. Nguyện là tình cảm tự phát. Nhớ câu chuyện này khi bạn nguyện. Để cho nguyện của bạn là hiện tượng tự phát. Nếu như nguyện của bạn không thể tự phát được, thế thì nó sẽ là cái gì? Ngay cả với Thượng đế mà bạn cũng phải có lời nguyện làm sẵn thì bạn sẽ đích thực và chân thực và tự nhiên ở đâu? 

Nói những điều bạn muốn nói. Nói với Thượng đế như bạn sẽ nói với người bạn trí huệ. Nhưng đừng mang tính nghi thức vào. Mối quan hệ hình thức không phải là mối quan hệ chút nào. Và bạn đã trở nên hình thức với cả Thượng đế nữa sao? Bạn bỏ lỡ tất cả tự phát. 

Đem tình yêu vào lời nguyện đi. Thế thì bạn có thể nói được! Đó là điều đẹp đẽ, đối thoại với vũ trụ. Nhưng bạn có quan sát không? Nếu bạn thực sự tự phát, mọi người sẽ nghĩ bạn điên. Nếu bạn đi tới cây và bắt đầu nói, hay đi tới bông hoa, bông hồng, mọi người sẽ nghĩ bạn điên. Nếu bạn đi tới nhà thờ và nói với cây thánh giá hay với bức ảnh, chẳng ai coi bạn là điên cả, họ sẽ coi bạn là người tôn giáo. Bạn đang nói với tảng đá trong ngôi đền và mọi người coi bạn là người tôn giáo bởi vì đây là hình thức được phép. 

Nếu bạn nói với bông hồng, cái còn sống động hơn bất kì ảnh đá nào... Nếu bạn nói với cây cối, cái bắt rễ sâu sắc vào Thượng đế sâu sắc hơn bất kì cây thánh giá nào bởi vì không cây thánh giá nào có rễ cả, nó là thứ chết - đó là lí do tại sao nó mang tính chết... 

Cái cây sống động, với rễ ăn sâu vào đất, cành vươn cao lên trời, được nối với cái toàn thể, với ánh mặt trời, với các vì sao - nói với những cây này! Đó có thể là điểm tiếp xúc với điều thiêng liêng. 

Nhưng nếu bạn nói theo cách đó mọi người sẽ coi bạn là điên. Tự phát bị coi là điên khùng. Nghi thức được coi là lành mạnh. Chính cái đối lập mới là thực tại. Khi bạn đi vào đền và bạn đơn giản lặp lại lời cầu nguyện đã ghi nhớ nào đó, bạn đơn giản ngu xuẩn. 

Làm việc nói từ tim qua tim đi! Và lời nguyện là đẹp, bạn sẽ bắt đầu nở hoa qua nó. Nguyện là trong tình yêu - trong tình yêu với cái toàn thể. Và đôi khi bạn bực mình với cái toàn thể và bạn không nói; điều đó là đẹp! Bạn nói, “Tôi sẽ không nói, thế là đủ rồi, và ngài đã không nghe tôi!” Một cử chỉ đẹp, không chết. Và đôi khi bạn vứt bỏ việc cầu nguyện hoàn toàn, bởi vì bạn cứ nguyện và Thượng đế lại không nghe. Đó là mối quan hệ với sự tham dự sâu sắc trong nó, bạn phát bực mình. Đôi khi bạn cảm thấy rất thoả mãn, cảm thấy biết ơn, cám ơn; đôi khi bạn cảm thấy tắt ngóm cả. Nhưng cứ để điều đó là mối quan hệ sống. Thế thì lời nguyện là thực. Nếu bạn làm như chiếc máy hát và lặp lại cùng một điều mọi ngày, đấy không phải là nguyện. 

Tôi đã nghe nói về một luật sư là một người rất tính toán. Mọi đêm ông lên giường, nhìn lên trời và nói, “Như trước. Lại giống như các ngày khác,” rồi đi ngủ. Chỉ một lần ông ấy nguyện - lần đầu tiên trong đời ông ấy - và thế rồi, “Như trước.” Điều đó giống như một việc hợp thức; phỏng có ích gì mà nói đi nói lại cùng lời nguyện mãi? Dù bạn nói như trước hay bạn lặp lại cả câu thì sự việc vẫn như nhau. 

Lời nguyện nên là kinh nghiệm sống, đối thoại từ tim qua tim. Và chẳng mấy chốc, nếu nó là từ trái tim, bạn sẽ cảm thấy rằng không chỉ bạn đang nói mà sự đáp ứng cũng có đó. Thế thì lời nguyện đã tới theo cách riêng của nó, tới đúng độ. Khi bạn cảm thấy sự đáp ứng, rằng đấy không chỉ là bạn nói - nếu nó là độc thoại thì nó vẫn không phải là lời nguyện - nó trở thành đối thoại. Bạn không nói, bạn lắng nghe. 

Và tôi bảo bạn toàn thể sự tồn tại này sẵn sàngđáp ứng. Một khi trái tim bạn cởi mở thì cái toàn thể đáp ứng. 

Không có gì giống như lời nguyện. Không yêunào có thể đẹp như nguyện. Cũng như không dục nàocó thể đẹp như yêu, không yêu nào có thể đẹp nhưnguyện. 

Nhưng thế rồi còn có giai đoạn thứ tư, điều tôi gọi là thiền. Tại đó, đối thoại dừng lại. Thế thì bạn có đốithoại trong im lặng. Lời bị vứt bỏ, bởi vì khi trái tim thực sự đầy bạn không thể nói được. Khi trái tim quá tràn đầy chỉ im lặng mới có thể là trung gian. Thế thì không có "người khác". Bạn là một với vũ trụ. Bạn không nói gì cũng không nghe gì. Bạn là cùng với cái một, với vũ trụ, với cái toàn thể. Cái một - đây là thiền. 

Có bốn giai đoạn của yêu, và ở từng giai đoạn đều có biến mất của sợ hãi. Nếu dục xảy ra một cách đẹp đẽ thì sợ thân thể sẽ biến mất. Thân thể sẽ không bị tác động thần kinh. Thông thường - tôi đã quan sát hàng nghìn thân thể - chúng đều bị thần kinh, thân thể phát điên. Không được hoàn thành, không được thoải mái như ở nhà. 

Nếu yêu xảy ra, sợ sẽ biến mất khỏi tâm trí. Bạn sẽ có cuộc sống tự do, thoải mái, như ở nhà. Không sợ hãi nào tới, không ác mộng. 

Nếu nguyện xảy ra, sợ hoàn toàn biến mất, bởi vì với nguyện bạn trở thành cái một - bạn bắt đầu cảm thấy mối quan hệ sâu sắc với cái toàn thể. Từ tâm linh, sợ biến mất; sợ chết biến mất khi bạn nguyện, chưa bao giờ trước đó. 

Và khi bạn thiền thì ngay cả không sợ cũng biến mất. Sợ biến mất, không sợ biến mất. Chẳng cái gì còn lại. Hay, duy nhất cái không là còn lại. Thuần khiết bao la, trong trắng, hồn nhiên. 

Khi cái mới gõ cửa, mở cửa ra!


Khi cái mới gõ cửa, mở cửa ra!




Cái mới là không quen thuộc. Nó có thể là người bạn, nó có thể là kẻ thù, ai mà biết được? Và không có cách nào để biết cả! Cách duy nhất để biết là cho phép nó; do đó mới có e dè, sợ hãi. 


Cái mới không nảy sinh ra từ bạn, nó tới từ cõi bên kia. Nó không phải là một phần của bạn. Toàn thể quá khứ của bạn bị lâm nguy. Cái mới là gián đoạn với bạn, do đó mới có sợ hãi. Bạn đã sống theo một cách, bạn đã nghĩ theo một cách, bạn đã tạo ra cuộc sống không lo lắng từ những tin tưởng của mình. Thế rồi cái gì đó mới gõ lên cửa. Bây giờ toàn thể hình mẫu quá khứ của bạn sẽ bị rối loạn. Nếu bạn cho phép cái mới đi vào bạn sẽ chẳng bao giờ vẫn còn như cũ, cái mới sẽ biến đổi bạn. 

Điều đó là mạo hiểm. Người ta chẳng bao giờ biết mình sẽ chấm dứt ở đâu với cái mới. Cái cũ là đã biết, quen thuộc; bạn đã sống với nó lâu rồi, bạn đã quen với nó. Cái mới là không quen thuộc. Nó có thể là bạn, nó có thể là thù, ai mà biết được? Và cũng chẳng có cách nào để biết cả! Cách duy nhất để biết là cho phép nó; do đó mới có e dè, sợ hãi. Và bạn cũng không thể cứ bác bỏ nó, bởi vì cái cũ vẫn chưa cho bạn điều bạn tìm kiếm. Cái cũ cứ hứa hẹn mãi, nhưng lời hứa đã không được hoàn thành. Cái cũ là quen thuộc nhưng khổ sở. Cái mới có thể sẽ không thoải mái nhưng lại có khả năng - nó có thể đem tới phúc lạc cho bạn. Cho nên bạn không thể bác bỏ nó và bạn cũng không thể chấp nhận nó; do đó bạn vẩn vơ, bạn run rẩy, phiền não lớn nảy sinh trong bản thể bạn. Điều đó là tự nhiên, chẳng cái gì đi sai cả. 

Đây là cách nó bao giờ cũng vậy, đây là cách nó bao giờ cũng như vậy. 

Cố hiểu diện mạo của cái mới đi. Mọi người trên thế giới đều muốn trở thành mới, bởi vì không ai được thoả mãn với cái cũ. Không ai đã bao giờ được thoả mãn với cái cũ bởi vì dù nó là bất kì cái gì, bạn đều đã biết nó. Một khi được biết rồi, nó đã trở thành lặp lại; một khi được biết rồi nó trở thành chán, đơn điệu. 

Bạn muốn gạt bỏ nó. Bạn muốn thám hiểm, bạn muốn phiêu lưu. Bạn muốn trở thành mới, ấy vậy mà khi cái mới gõ cửa bạn co rúm lại, bạn thoái lui, bạn trốn vào cái cũ. Đây là thế tiến thoái lưỡng nan. 

Chúng ta trở thành mới như thế nào? - và mọi người đều muốn trở nên mới. Dũng cảm là cần thiết, và không phải dũng cảm thường; dũng cảm phi thường là cần thiết. Và thế giới này đầy những kẻ hèn nhát, do đó mọi người đã dừng trưởng thành. Làm sao bạn có thể trưởng thành nếu bạn là kẻ hèn nhát? Với từng cơ hội mới bạn đều co rúm lại, bạn nhắm mắt lại. 

Làm sao bạn có thể trưởng thành được? Làm sao bạn có thể hiện hữu được? Bạn chỉ giả vờ hiện hữu thôi. Và bởi vì bạn không thể lớn lên được nên bạn phải tìm cái lớn lên thay thế. Bạn không thể lớn lên nhưng số dư ngân hàng của bạn có thể lớn lên, đó là cái thay thế. Nó không cần dũng cảm, nó được điều chỉnh hoàn hảo theo hèn nhát của bạn. Số dư ngân hàng của bạn cứ lớn lên và bạn bắt đầu nghĩ rằng bạn lớn lên. Bạn trở nên đáng kính hơn. Tên tuổi và danh vọng của bạn cứ lớn lên và bạn cho rằng mình đang lớn lên sao? Bạn đơn giản đang tự lừa mình. Tên tuổi bạn không phải là bạn, mà danh vọng của bạn cũng không phải là bạn. Số dư ngân hàng của bạn không phải là bản thể bạn. Nhưng nếu bạn nghĩ về bản thể thì bạn bắt đầu dao động, bởi vì nếu bạn muốn lớn lên ở đó thế thì bạn phải vứt bỏ tất cả mọi hèn nhát. 

Làm sao chúng ta trở thành mới? Chúng ta không trở thành cái mới của bản thân mình. Tính mới tới từ cõi bên kia, chẳng hạn từ Thượng đế. Tính mới tới từ sự tồn tại. Tâm trí bao giờ cũng cũ. Tâm trí chưa bao giờ mới cả, nó là việc tích luỹ của quá khứ. Tính mới tới từ cõi bên kia; nó là món quà từ Thượng đế. Nó từ cõi bên kia và nó là của cõi bên kia. 

Cái không biết và cái không thể biết, cõi bên kia, có quyền đi vào trong bạn. Nó có quyền đi vào trong bạn bởi vì bạn chưa bao giờ bị dán kín và bị tách rời; bạn không phải là hòn đảo. Bạn có thể đã quên mất cõi bên kia nhưng cõi bên kia không quên bạn. Con có thể quên mẹ, mẹ không quên con. Bộ phận có thể bắt đầu nghĩ, "Mình tách rời," nhưng cái toàn thể biết rằng bạn không tách rời. Cái toàn thể có quyền đi vào trong bạn. Nó vẫn trong tiếp xúc với bạn. Đó là lí do tại sao cái mới cứ tới, mặc dầu bạn không chào mừng nó. Nó tới mọi sáng, nó tới mọi tối. Nó tới theo cả nghìn lẻ một cách. Nếu bạn có mắt để nhìn, bạn sẽ thấy nó liên tục tới với bạn. 

Sự tồn tại cứ mưa rào lên bạn, nhưng bạn lại bị khép kín trong quá khứ của mình. Bạn gần như trong một loại nấm mồ. Bạn đã trở thành không nhạy cảm. Bởi vì hèn nhát của mình bạn đã đánh mất nhạy cảm của mình. Nhạy cảm nghĩa là cái mới sẽ được cảm thấy - và cảm động của cái mới, và đam mê về cái mới và cuộc phiêu lưu sẽ nảy sinh và bạn sẽ bắt đầu đi vào cái không biết, chẳng biết mình đang đi đâu. 

Tâm trí cho điều đó là điên. Tâm trí cho bỏ cái cũ là không hợp lí. Nhưng Thượng đế bao giờ cũng mới. Đó là lí do tại sao chúng ta không thể dùng thời quá khứ hay thời tương lai cho Thượng đế. Chúng ta không thể nói "Thượng đế đã có," chúng ta không thể nói "Thượng đế sẽ có." Chúng ta chỉ có thể dùng thời hiện tại: "Thượng đế đang đó." Nó bao giờ cũng tươi tắn, trong trắng. Và nó có quyền đi vào bạn. 

Bạn không phải là hòn đảo. Bạn có thể đã quên mất cõi bên kia nhưng cõi bên kia lại không quên bạn. Con có thể quên mẹ, mẹ không quên con. Bộ phận có thể bắt đầu nghĩ, "Mình tách rời," nhưng cái toàn thể biết rằng bạn không tách rời.

Nhớ lấy, bất kì cái gì mới tới trong cuộc sống của bạn đều là thông điệp từ Thượng đế. Nếu bạn chấp nhận nó bạn mang tính tôn giáo. Nếu bạn bác bỏ nó bạn phi tôn giáo. Con người cần thảnh thơi thêm chút nữa để chấp nhận cái mới; cởi mở thêm chút nữa để cái mới đi vào. Nhường đường cho Thượng đế đi vào bạn. 

Đó là toàn thể ý nghĩa của nguyện hay thiền - bạn mở ra, bạn nói có, bạn nói "Mời vào." Bạn nói, "Tôi đã chờ đợi và chờ đợi và tôi cám ơn rằng ngài đã tới." Bao giờ cũng đón nhận cái mới với niềm vui lớn lao. Cho dù đôi khi cái mới dẫn bạn vào điều bất tiện, dầu vậy điều đó vẫn xứng đáng với nó. Cho dù đôi khi cái mới dẫn bạn xuống rãnh nào đó, dầu vậy điều đó vẫn xứng đáng với nó, bởi vì chỉ qua lỗi lầm mà người ta mới học được, và chỉ qua khó khăn người ta mới trưởng thành. Cái mới sẽ đem tới khó khăn. Đó là lí do tại sao bạn chọn cái cũ - nó không đem tới bất kì khó khăn nào. Nó là sự an ủi, nó là chỗ trú ẩn. 

Và chỉ cái mới, được chấp nhận sâu sắc và toàn bộ, mới có thể làm biến đổi bạn. Bạn không thể đem cái mới vào cuộc sống của mình, cái mới tới. Bạn hoặc chấp nhận nó hoặc bác bỏ nó. Nếu bạn bác bỏ nó bạn vẫn còn là tảng đá, đóng và chết. Nếu bạn đón nhận nó bạn trở thành bông hoa, bạn bắt đầu mở ra... và trong việc mở đó là lễ hội. 

Bạn không thể đem cái mới vào cuộc sống của mình, cái mới tới. Bạn hoặc chấp nhận nó hoặc bác bỏ nó.

Chỉ việc đi vào của cái mới mới có thể làm biến đổi bạn, không có cách khác để biến đổi. Và nhớ, điều đó không làm gì với bạn và nỗ lực của bạn. Nhưng không làm gì không phải là dừng hành động; nó là hành động mà không có ý chí hay chiều hướng hay xung lực từ quá khứ của bạn. Việc tìm kiếm cái mới không thể là việc tìm kiếm thông thường, bởi vì nó là tìm kiếm cái mới - làm sao bạn có thể tìm được nó? 

Bạn không biết nó, bạn chưa bao giờ gặp nó. Việc tìm cái mới sẽ là cuộc thám hiểm để mở. Người ta không biết. Người ta phải bắt đầu trong trạng thái không biết, và người ta phải đi một cách hồn nhiên như đứa trẻ, run lên với mọi khả năng - và các khả năng là vô hạn. 

Bạn không thể làm được gì để tạo ra cái mới, bởi vì bất kì điều gì bạn làm cũng sẽ là từ cái cũ, sẽ từ quá khứ. Nhưng điều đó không có nghĩa là bạn phải dừng hành động. Nó là hành động mà không có ý chí hay chiều hướng hay xung lực từ quá khứ của bạn. Hành động không ý chí hay chiều hướng hay xung lực từ quá khứ - và đó là hành động mang tính thiền. Hành động một cách tự phát đi. Để khoảnh khắc này mang tính quyết định. 

Bạn không áp đặt quyết định của mình, bởi vì quyết định sẽ là từ quá khứ và nó sẽ phá huỷ cái mới. Bạn chỉ hành động trong khoảnh khắc này như đứa trẻ. Hoàn toàn bỏ mặc bản thân mình cho khoảnh khắc này - và mọi ngày bạn sẽ thấy sự bắt đầu mới, ánh sáng mới, sáng suốt mới. Và những sáng suốt mới đó sẽ làm thay đổi bạn. Một hôm, bỗng nhiên bạn sẽ thấy mình từng khoảnh khắc đều mới mẻ. Cái cũ không còn nấn ná nữa, cái cũ không còn treo quanhbạn như đám mây. Bạn giống như giọt sương, tươi tắn và trẻ trung. 

Đó là ý nghĩa thực của phục sinh. Nếu bạn hiểu điều này bạn sẽ được tự do khỏi kí ức - kí ức tâm lí, đang đó. Kí ức là thứ chết. Kí ức không phải là chân lí và không bao giờ có thể là chân lí, bởi vì chân lí bao giờ cũng sống động, chân lí là cuộc sống; kí ức là sự dai dẳng của cái không còn nữa. Nó đang sống trong thế giới ma, nhưng nó chứa chúng ta, nó là nhà tù của chúng ta. Thực tế, nó là chúng ta. Kí ức tạo ra điểm nút, cái phức hợp được gọi là 'tôi', bản ngã. Và một cách tự nhiên thực thể giả này, được gọi là 'tôi', liên tục sợ chết. Đó là lí do tại sao bạn sợ cái mới. 

Cái 'tôi' này sợ hãi, không phải là bạn thực. Bản thể không sợ hãi, nhưng bản ngã có sợ hãi, bởi vì bản ngã rất rất sợ chết. Nó là nhân tạo, nó là tuỳ tiện, nó được gắn lại với nhau. Nó có thể rời ra vào bất kì khoảnh khắc nào. 

Và khi cái mới đi vào, có sợ hãi. Bản ngã sợ, nó có thể sụp đổ. Bằng cách nào đó nó đã xoay xở để giữ cho bản thân nó được kết lại, giữ cho bản thân nó thành một mảnh, và bây giờ cái gì đó mới tới - đó sẽ là thứ gây ra tan tành. Đó là lí do tại sao bạn không chấp nhận cái mới với niềm vui. Bản ngã không thể chấp nhận cái chết riêng của nó - làm sao nó có thể chấp nhận cái chết riêng của mình bằng niềm vui được? 

Bạn chỉ hành động trong khoảnh khắc này như đứa trẻ. Hoàn toàn bỏ mặc bản thân mình cho khoảnh khắc này - và mọi ngày bạn sẽ thấy sự bắt đầu mới, ánh sáng mới, sự sáng suốt mới. Và những sáng suốt mới đó sẽ cứ làm thay đổi bạn.

Chừng nào bạn còn chưa hiểu rằng mình không là bản ngã, bạn sẽ không có khả năng đón nhận cái mới. Một khi bạn đã thấy rằng bản ngã là kí ức quá khứ của mình chứ không gì khác, rằng bạn không là kí ức của mình, rằng kí ức chỉ giống như cái máy tính sinh học, rằng nó là cái máy, một cơ cấu, tiện dụng, nhưng bạn ở ngoài nó... Bạn là tâm thức, không phải kí ức. Kí ức là nội dung trong tâm thức, bạn là bản thân tâm thức. 

Chẳng hạn, bạn thấy ai đó đang bước đi trên đường. Bạn nhớ khuôn mặt này nhưng bạn không thể nhớ được tên. Nếu bạn là kí ức bạn phải nhớ cả cái tên nữa chứ. Nhưng bạn nói, "Tôi nhận ra khuôn mặt nhưng tôi không nhớ tên." Thế rồi bạn bắt đầu nhìn vào kí ức của mình, bạn đi vào bên trong kí ức mình, bạn nhìn vào phía này, phía kia, và bỗng nhiên cái tên bật ra và bạn nói, "Rồi, đây là tên người đó." Kí ức là bản ghi của bạn. Bạn là người nhìn vào trong bản ghi, bạn không phải là bản thân kí ức. 

Và điều xảy ra nhiều lần rằng nếu bạn trở nên quá căng thẳng về việc nhớ cái gì đó, việc nhớ nó lại trở thành khó khăn, bởi vì chính sự căng thẳng, chính sức căng áp vào con người bạn không cho phép kí ức đưa ra thông tin cho bạn. Bạn cố gắng và cố gắng nhớ tên của ai đó mà nó lại không tới, mặc dầu bạn nói nó chỉ ở ngay đầu lưỡi thôi. Bạn biết rằng mình biết, nhưng dầu vậy cái tên vẫn không tới. 

Bây giờ đây là điều kì lạ. Nếu bạn là kí ức, thế thì ai ngăn cản bạn và làm sao nó lại không tới? Và ai là người này, người nói, "Tôi biết, nhưng dầu vậy nó vẫn không tới"? Và thế rồi bạn cố gắng chật vật và bạn càng cố gắng chật vật thì điều đó lại càng trở thành khó hơn. Thế rồi, phát ngán với toàn thể vấn đề, bạn bỏ ra vườn đi dạo và bỗng nhiên, nhìn vào bụi hồng, nó có đó rồi, nó đã trồi lên bề mặt. 

Kí ức của bạn không phải là bạn. Bạn là tâm thức, kí ức là nội dung. Nhưng kí ức là toàn thể sinh lực của bản ngã. Kí ức tất nhiên già cỗi, và nó sợ cái mới. Cái mới có thể làm rối loạn, cái mới có thể đến độ nó không thể tiêu hoá được. Cái mới có thể đem tới rắc rối nào đó. Bạn sẽ phải dịch chuyển và tái dịch chuyển bản thân mình. Bạn sẽ phải điều chỉnh lại bản thân mình. Điều đó dường như gian nan. 

Để là mới người ta cần trở nên không bị đồng nhất với bản ngã. Một khi bạn không đồng nhất với bản ngã, bạn không quan tâm liệu nó chết hay sống. Thực tế bạn biết rằng dù nó sống hay chết, nó đã chết rồi. Nó chỉ là một cơ cấu. Dùng nó nhưng đừng bị nó dùng. Bản ngã liên tục sợ chết bởi vì nó là tuỳ tiện; do đó mới có nỗi sợ. Nó không nảy sinh từ bản thể; nó không thể nảy sinh từ bản thể được, bởi vì bản thể là cuộc sống - làm sao cuộc sống có thể sợ cái chết được? Cuộc sống không biết gì về cái chết cả. Nảy sinh từ sự tuỳ tiện, cái nhân tạo, bằng cách nào đó được gắn lại với nhau, cái giả tạo, cái rởm. Và vậy mà chỉ việc buông bỏ như vậy, chỉ cái chết đó mới làm cho con người sống động. Chết đi trong bản ngã là được sinh ra trong bản thể. 

Kí ức của bạn không phải là bạn. Bạn là tâm thức, kí ức là nội dung. Nhưng kí ức là toàn thể sinh lực của bản ngã.

Cái mới là sứ giả từ Thượng đế, cái mới là thông điệp từ Thượng đế. Nó là cẩm nang! Nghe theo cái mới, đi cùng cái mới. Tôi biết bạn sợ. Mặc cho nỗi sợ, đi cùng cái mới đi, và cuộc sống của bạn sẽ trở nên giầu có hơn và bạn sẽ có khả năng một ngày nào đó toát ra sự huy hoàng không cầm tù của mình. 

CHÚNG TA BỎ LỠ NHIỀU ĐIỀU trong cuộc sống chỉ bởi vì chúng ta thiếu dũng cảm. Thực tế, không cần nỗ lực nào để đạt tới cả - chỉ cần dũng cảm - và mọi điều bắt đầu tới với bạn thay vì bạn đi tới chúng... ít nhất là trong thế giới nội tâm điều đó là vậy. 

Và với tôi, phúc lạc là dũng cảm lớn nhất. Khổ là rất hèn nhát. Thực tế để khổ chẳng cần gì cả. Bất kì kẻ hèn nhát nào cũng có thể làm điều đó, bất kì kẻ ngu nào cũng có thể làm điều đó. Mọi người đều có khả năng khổ nhưng để có phúc lạc, dũng cảm lớn lao là cần thiết - đó là nhiệm vụ vất vả. 

Thông thường chúng ta không nghĩ vậy - chúng ta nghĩ, “Để hạnh phúc thì cần gì? Mọi người đều muốn hạnh phúc.” Điều đó tuyệt đối sai. Rất hiếm khi người ta muốn hạnh phúc - ấy thế mà đấy lại là điều họ cứ nói. Rất hiếm khi người ta sẵn sàng hạnh phúc - mọi người đầu tư quá nhiều vào khổ của mình. Họ yêu bất hạnh... thực tế họ hạnh phúc trong việc bất hạnh. 

Có nhiều điều cần được hiểu - bằng không thì rất khó thoát ra khỏi vết mòn của khổ. Điều đầu tiên –không ai giữ bạn ở đó cả; chính bạn mới là người đã quyết định còn ở trong nhà tù của khổ đó. Không ai giữ bất kì ai. Người sẵn sàng thoát ra khỏi nó, có thể thoát ra khỏi nó ngay chính khoảnh khắc này. Không ai khác chịu trách nhiệm cả. Nếu người ta khổ, người ta chịu trách nhiệm lấy, nhưng người khổ không bao giờ chấp nhận trách nhiệm - đó là cách người đó duy trì khổ. Người đó nói, “Ai đó khác làm cho tôi khổ.” 

Nếu ai đó khác đang làm cho bạn khổ, một cách tự nhiên, bạn có thể làm được gì? Nếu bạn đang tự làm cho mình khổ, điều gì đó có thể được làm... điều gì đó có thể được làm ngay lập tức. Thế thì nó ở trong tay bạn để bị khổ hay không khổ. Cho nên mọi người cứ đổ trách nhiệm - lúc thì lên vợ, lúc thì lên chồng, lúc thì lên gia đình, lúc thì lên hoàn cảnh, tuổi thơ, mẹ, bố... lúc thì xã hội, lịch sử, số phận, thượng đế, nhưng họ bao giờ cũng cứ đổ tại. Cái tên là khác nhưng thủ đoạn là một. 

Con người thực sự trở thành người khi người đó chấp nhận trách nhiệm toàn bộ - người đó chịu trách nhiệm về bất kì điều gì mình đang là. Đây là dũng cảm đầu tiên, dũng cảm lớn nhất. Rất khó chấp nhận điều đó, bởi vì tâm trí cứ nói, “Nếu mình chịu trách nhiệm, sao mình lại tạo ra nó?“ Để tránh điều này chúng ta nói rằng ai đó khác chịu trách nhiệm: “Tôi có thể làm được gì? Tôi bất lực... Tôi là nạn nhân! Tôi bị ném từ đây qua đó bởi những lực lớn hơn tôi và tôi không thể làm được gì cả. Cho nên nhiều nhất tôi có thể khóc về khổ và trở nên khổ hơn bởi việc khóc.” 

Rất hiếm khi người ta muốn hạnh phúc - ấy thế mà đấy lại là điều họ cứ nói. Rất hiếm khi người ta sẵn sàng hạnh phúc - mọi người đầu tư quá nhiều vào khốn khổ của mình. Họ yêu bất hạnh... thực tế họ hạnh phúc trong việc bất hạnh.

Và mọi thứ phát triển - nếu bạn thực hành nó, nó phát triển. Thế thì bạn đi ngày một sâu hơn... bạn chìm ngày một sâu hơn. Không ai, không lực nào khác, đang làm bất kì cái gì cho bạn. Chính bạn và chỉ có bạn thôi. Đây là toàn thể triết lí về nghiệp - rằng chính là việc làm của bạn; 'nghiệp' nghĩa là việc làm. Bạn đã làm nó và bạn có thể hoàn tác nó. Và không có nhu cầu chờ đợi, trì hoãn. Thời gian là không cần thiết - bạn có thể đơn giản nhảy ra khỏi nó! 

Nhưng chúng ta đã trở nên bị quen đi. Chúng ta sẽ cảm thấy rất đơn độc nếu chúng ta dừng việc bị khổ, chúng ta sẽ mất người bạn đồng hành gần gũi nhất của mình. Nó đã trở thành cái bóng - nó theo chúng ta ở mọi nơi. Khi không ai có đó, ít nhất khổ vẫn có cùng với bạn - người ta đã cưới nó. Và đó là cuộc hôn nhân dài, lâu dài; bạn vẫn cưới khổ trong nhiều kiếp. 

Bây giờ thời gian đã tới để li dị nó. Điều đó tôi gọi là dũng cảm lớn lao - li dị với khổ, làm mất thói quen cũ nhất của tâm trí nhân loại, người đồng hành lâu nhất. 

Con người thực sự trở thành người khi người đó chấp nhận trách nhiệm toàn bộ - người đó chịu trách nhiệm về bất kì điều gì mình đang là. Đây là dũng cảm đầu tiên, dũng cảm lớn nhất.



Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Con đường của hồn nhiên


Con đường của hồn nhiên



Vấn đề thực không phải là dũng cảm, vấn đề thực là ở chỗ cái đã biết là cái chết, còn cái không biết là cái đang sống. Níu bám vào cái đã biết là níu bám vào cái xác. Không cần dũng cảm để vứt bỏ níu bám; thực tế cần dũng cảm để cứ níu bám vào cái xác. Bạn chỉ phải thấy... Cái quen thuộc với bạn, cái bạn đã từng sống - nó đã cho cái gì? Bạn đã đạt tới đâu? Bạn vẫn không trống rỗng sao? Không có bất mãn mênh mông, thất vọng sâu sắc và vô nghĩa đó sao? Bằng cách nào đó bạn cứ xoay xở, che giấu chân lí và tạo ra dối trá để vẫn còn dính líu, tham gia. 

Đây là vấn đề: thấy với sự sáng tỏ rằng mọi thứ bạn biết đều là của quá khứ, nó đã trôi qua rồi. Nó là một phần của bãi tha ma. Bạn có muốn sống trong nấm mồ không, hay bạn muốn sống động? Và đây không chỉ là vấn đề ngày hôm nay; nó sẽ là cùng vấn đề cho ngày mai, và ngày kia nữa. Nó sẽ là cùng vấn đề vào hơi thở cuối cùng của bạn. 

Bất kì điều gì bạn biết, bạn tích luỹ - thông tin, tri thức, kinh nghiệm - khoảnh khắc bạn đã thám hiểm xong chúng bạn đều được kết thúc với chúng. Bây giờ mang những lời trống rỗng kia, cái tải trọng chết kia, là đang nghiền nát cuộc sống của bạn, làm nặng nề cuộc sống của bạn, ngăn cản bạn không cho đi vào việc sống, sự hiện hữu hân hoan - điều đang chờ đợi bạn từng khoảnh khắc.

Trong bàn tay của trái tim, trí tuệ trở thành thông minh. Đó là việc biến đổi, việc biến đổi toàn bộ năng lượng. Thế thì người đó không trở thành trí thức, ngườiđó đơn giản trở thành trí huệ.

Con người của hiểu biết làm chết đi mọi khoảnh khắc của quá khứ và được tái sinh lại cho tương lai. Sự hiện diện của người đó bao giờ cũng là việc biến đổi, tái sinh và phục sinh. Đấy không phải là vấn đề dũng cảm chút nào, đó là điều đầu tiên cần được hiểu. Đó là vấn đề về sáng tỏ, về việc rõ ràng cái gì là cái gì. 

Và điều thứ hai, bất kì khi nào thực sự có vấn đề dũng cảm, không ai có thể trao nó cho bạn được. Nó không phải là cái gì đó có thể được đem tặng như món quà. Nó là cái gì đó mà bạn được sinh ra cùng với nó, bạn đã không cho phép nó phát triển, bạn đã không cho phép nó tự khẳng định mình. 

HỒN NHIÊN LÀ CẢ DŨNG CẢM VÀ SÁNG TỎ. Không có nhu cầu phải dũng cảm nếu bạn hồn nhiên. Cũng không có nhu cầu về bất kì sự sáng tỏ nào bởi vì chẳng cái gì có thể thể sáng tỏ hơn, sáng rõ như pha lê, hơn hồn nhiên. Cho nên toàn thể vấn đề này là làm sao bảo vệ hồn nhiên riêng của người ta. 

Hồn nhiên không phải là cái gì đó cần đạt tới. Nó không phải là cái gì đó cần được học. Nó không phải là cái gì đó giống như tài năng: hội hoạ, âm nhạc, thơ ca, điêu khắc. Nó không giống những điều này. Nó giống nhiều hơn với việc thở, cái gì đó bạn được sinh ra cùng với nó.

Hồn nhiên là bản tính của mọi người. Không ai được sinh ra lại khác với hồn nhiên. Làm sao người ta có thể được sinh ra mà khác hồn nhiên được? Việc sinh có nghĩa là bạn đã đi vào thế giới này như một tabula rasa1, không cái gì được viết lên bạn. Bạn chỉ có tương lai, không quá khứ. Đó là ý nghĩa của hồn nhiên. Cho nên trước hết cố gắng hiểu tất cả mọi ý nghĩa của hồn nhiên. 

Điều thứ nhất là: không quá khứ, chỉ tương lai. Quá khứ làm biến chất bởi vì nó cho bạn kí ức, kinh nghiệm trông đợi. Tất cả những điều đó tổ hợp lại với nhau làm cho bạn láu lỉnh nhưng không sáng tỏ. 

Chúng làm cho bạn tinh ranh nhưng không thông minh. Chúng có thể giúp bạn thành công trong thế giới này nhưng ở bản thể bên trong nhất của mình, bạn sẽ là thất bại. Và tất cả mọi thành công của thế giới này đều chẳng có nghĩa gì nếu được so sánh với thất bại mà chung cuộc bạn sẽ đối diện, bởi vì chung cuộc chỉ cái ta bên trong của bạn mới còn lại với bạn. Tất cả đều mất đi: vinh quang của bạn, quyền lực của bạn, tên tuổi bạn, danh tiếng của bạn - tất cả bắt đầu biến mất như cái bóng. 

Con người của hiểu biết làm chết đi mọi khoảnh khắc của quá khứ và được tái sinh lại cho tương lai. Sự hiện diện của người đó bao giờ cũng là việc biến đổi, sự tái sinh và phục sinh.

Đến cuối cùng cái duy nhất còn lại chính là cái bạn đã mang ngay từ chính lúc đầu. Bạn có thể lấy đi từ thế giới này chỉ cái bạn đã mang vào nó. 

Ở Ấn Độ người từng trải thông thường coi thế giới này là phòng chờ trong ga xe lửa; nó không phải là nhà bạn. Bạn không ở lại trong phòng đợi mãi mãi. 

Chẳng cái gì trong phòng đợi thuộc về bạn cả - đồ đạc, các bức tranh trên tường... Bạn dùng chúng - bạn nhìn bức tranh, bạn ngồi trên ghế, bạn nghỉ trên giường - nhưng chẳng cái gì thuộc vào bạn cả. Bạn chỉ ở đây vài phút thôi, hay vài giờ là nhiều nhất, thế rồi bạn sẽ qua đi. 

Vâng, cái bạn đã mang vào cùng mình, vào phòng đợi, bạn sẽ mang đi cùng mình; cái đó là của bạn. Bạn đã mang cái gì vào thế giới này? Và thế giới này chắc chắn là phòng đợi rồi. Việc chờ đợi có thể không phải trong vài giây, vài phút, vài giờ, vài ngày, nó có thể là nhiều năm; nhưng có thành vấn đề gì dù bạn đợi bẩy giờ hay bẩy mươi năm? 

Bạn có thể quên, trong bẩy mươi năm, rằng bạn chỉ đang trong phòng đợi. Bạn có thể bắt đầu nghĩ có lẽ bạn là người chủ, có lẽ đây là ngôi nhà bạn đã xây nên. Bạn có thể bắt đầu đặt biển tên mình lên phòng đợi. 

Không có nhu cầu phải dũng cảm nếu bạn hồn nhiên. Cũng không có nhu cầu về bất kì sự sáng tỏ nào bởi vì chẳng cái gì có thể sáng tỏ hơn, sáng rõ như pha lê, hơn hồn nhiên. Cho nên toàn thể vấn đề này là làm sao bảo vệ sự hồn nhiên riêng của người ta.

Có những người - tôi đã thấy điều đó, bởi vì tôi đã từng du hành nhiều thế: mọi người đã viết tên mình trong nhà tắm của phòng đợi. Mọi người đã khắc tên mình lên đồ đạc trong phòng đợi. Điều đó có vẻ ngu xuẩn, nhưng điều đó rất giống với điều mọi người làm trong thế giới này. 

Có một câu chuyện rất có ý nghĩa về kinh sách Jaina cổ đại. Ở Ấn Độ người ta tin rằng nếu ai đó có thể trở thành hoàng đế của toàn thế giới thì người đó được gọi là chakravartin. Từ chakravartin đơn giản ngụ ý... chakra nghĩa là bánh xe. Ở Ấn Độ cổ đại nó là cách tránh việc tranh đấu và bạo hành không cần thiết: chiếc xe, chiếc xe bằng vàng, rất có giá trị, với những con ngựa khoẻ và đẹp, sẽ đi từ vương quốc này sang vương quốc khác. Nếu vương quốc kia không chống lại và để cho chiếc xe đi qua, điều đó ngụ ý rằng vương quốc này đã chấp nhận người chủ của chiếc xe kia là bề trên của mình. Thế thì không cần đánh nhau. 

Theo cách này chiếc xe sẽ đi, và bất kì chỗ nào mọi người cản trở chiếc xe thì sẽ có chiến tranh. Nếu chiếc xe không bị cản trở ở đâu cả, thế thì không có chiến tranh mà tính chất ưu việt của nhà vua này lại được chứng minh: ông ấy trở thành chakravartin - người có bánh xe lăn đi khắp nơi và người mà không ai có thể cản trở lại được. Đây đã từng là ham muốn của mọi nhà vua, trở thành một chakravartin. 

Chắc điều đó cần mạnh hơn Alexander Đại đế đã mạnh. Chỉ phái mỗi chiếc xe đi thôi... điều đó cần sức mạnh ghê gớm để hỗ trợ cho nó. Nó cần chắc chắn nào đó rằng nếu chiếc xe bị cản trở, sẽ có tàn sát lớn lao. Điều đó nghĩa là con người này đã được thừa nhận, rằng nếu người đó muốn chinh phục bất kì ai, không có cách nào ngăn cản người đó chinh phục bạn. Nhưng đó là cách thức rất tượng trưng, văn minh hơn. Không cần tấn công, không cần bắt đầu giết hại; chỉ gửi đi một thông điệp tượng trưng. Cho nên với lá cờ của nhà vua chiếc xe sẽ đi, và nếu nhà vua kia cảm thấy rằng chẳng có ích gì mà chống lại - rằng đánh nhau đơn giản nghĩa là thất bại và bạo hành, huỷ diệt không cần thiết - nhà vua đón chào chiếc xe, và trong kinh đô của mình hoa 
được tung lên chiếc xe. 

Điều này dường như còn văn minh hơn nhiều so với điều các nước như Liên Xô và Mĩ đang làm. Chỉ gửi đi một chiếc xe đẹp - nhưng điều đó có nghĩa là sức mạnh của bạn phải là cái gì đó tuyệt đối chắc chắn cho bạn; và không chỉ cho bạn, nó nên là chắc chắn cho mọi người khác. Chỉ thế thì một biểu tượng như vậy mới có ích. Cho nên mọi nhà vua đều có ham muốn trở thành một chakravartin một ngày nào đó. 

Câu chuyện là ở chỗ một người đã trở thành chakravartin - và điều xảy ra là chỉ một lần trong nhiều nghìn năm mới có một người trở thành chakravartin. Ngay cả Alexander Đại đế cũng không phải là người chinh phục thế giới; có nhiều chỗ bị bỏ lại không chinh phục được. Và ông ta đã chết khi còn rất trẻ, ông ta mới ba mươi ba: thậm chí không đủ thời gian để chinh phục thế giới. Nói gì tới chinh phục, thậm chí toàn thế giới cũng chẳng được biết tới! Một nửa thế giới cũng chẳng được biết tới, mà cái nửa đã được biết đó, thậm chí nó cũng không được chinh phục. Con người này, người tôi sắp kể cho bạn câu chuyện, đã trở thành chakravartin. 

Đến cuối cùng cái duy nhất còn lại chính là cái bạn đã mang ngay từ chính lúc đầu. Bạn có thể lấy đi từ thế giới này chỉ cái bạn đã mang vào nó.

Tương truyền khi một chakravartin chết - bởi vì một chakravartin xảy ra chỉ một lần trong hàng nghìn năm, ông ấy là người hiếm hoi - khi ông ấy chết ông ấy được đón nhận lên trời trong niềm hân hoan lớn lao và ông ấy được đưa tới một chỗ đặc biệt. 

Theo huyền thoại Jaina, trên trời có dãy núi song song với Himalaya. Himalaya được làm từ đá và đất và băng. Himalaya song song trên trời được gọi là Sumeru. Sumeru nghĩa là núi tối thượng: không cái gì có thể cao hơn cái đó. Nó là vàng khối; thay vì là đá có kim cương và hồng ngọc và lục ngọc. 

Khi một chakravartin chết ông ấy được đưa tới núi Sumeru để khắc tên ông ấy vào núi. Đó là cơ hội hi hữu; điều đó chỉ xảy ra một lần trong nhiều nghìn năm. Tất nhiên con người này kích động vô cùng rằng mình sẽ viết tên lên Sumeru. Đó là danh sách tối thượng của tất cả những con người vĩ đại đã từng hiện hữu, và nó cũng sẽ là bản danh mục của những người vĩ đại sắp tới. Hoàng đế này trở thành người tham gia vào dòng truyền thừa của các siêu nhân. Người giữ cổng đưa cho ông ấy bản hướng dẫn khắc tên mình. Ông ấy muốn đem theo vài người của mình, những người đã tự tử chỉ bởi vì hoàng đế của mình sắp chết - họ không thể nghĩ tới việc sống mà thiếu ông ấy. Vợ ông ấy, tể tướng, tướng chỉ huy của ông ấy, tất cả những người vĩ đại ở quanh ông ấy đề tự tử, cho nên họ đã tới cùng ông ấy. 

Hoàng đế muốn người giữ cổng cho tất cả họ và để xem ông ấy khắc tên mình, vì phỏng có gì vui nế bạn đi một mình và khắc tên mình mà chẳng ai có để mà xem? - bởi vì niềm vui thật là ở chỗ toàn thế giới sẽ nhìn. 

Người giữ cổng nói, "Ông nghe lời khuyên của tôi đây, bởi vì đây là nghề cha truyền con nối của tôi. tôi đã là người giữ cổng, bố ông ấy cũng là người giữ cổng; trong nhiều thế kỉ chúng tôi đã là người giữ cổng cho núi Sumeru. Nghe lời khuyên của tôi: Đừng đem họ đi cùng ông; bằng không ông sẽ hối hận đấy.

Hoàng đế không thể nào hiểu nổi, nhưng ông ấy thậm chí cũng không thể đi ngược lại lời khuyên này vì có lợi gì mà người này lại đi ngăn cản ông ấy? Người giữ cổng nói, "Nếu ông vẫn muốn họ và xem, trước hết hãy khắc tên ông đi đã; thế rồi quay lại và đem họ đi cùng ông nếu ông muốn. Tôi không phản đối cho dù bây giờ ông muốn đem họ và nhưng chỉ trong trường hợp ông quyết định khôn ngoan đưa vào, thế thì sẽ không có cơ hội nào để thay đổi tâm trí ông... họ sẽ ở cùng với ông. Ông đi một mình đi." Đây hoàn toàn là lời khuyên lành mạnh. 

Hoàng đế nói, "Tốt đấy. Ta sẽ đi một mình, khắc tên ta vào, quay lại và gọi tất cả các ông." 
Người giữ cổng nói, "Tôi hoàn toàn thoải mái vớiđiều đó."

Hoàng đế đi vào và ông ta thấy Sumeru sáng lên dưới hàng nghìn mặt trời - bởi vì trên trời bạn không thể nghèo tới mức chỉ có một mặt trời - hàng nghìn mặt trời, và núi vàng còn lớn hơn nhiều so với Himalaya - và Himalaya dài gần hai nghìn dặm! Ông ấy không thể nào mở được mắt ra trong một chốc, nó chói loà thế ở đó. Và thế rồi ông ấy bắt đầu tìm chỗ, đúng chỗ, nhưng ông ấy rất phân vân: không có chỗ; toàn thể quả núi đều được khắc đầy những tên. 

Ông ấy không thể nào tin được vào mắt mình. Lần đầu tiên ông ấy trở nên nhận biết mình là gì. Mãi cho tới giờ ông ấy vẫn nghĩ mình là siêu nhân chỉ xảy ra một lần trong hàng nghìn năm. Nhưng thời gian là từ vĩnh hằng; ngay cả hàng nghìn năm cũng chẳng tạo ra khác biệt gì, biết bao nhiêu chakravartin đã từng xảy ra rồi. Không còn chỗ trên quả núi lớn nhất đó trong cả vũ trụ nơi ông ấy có thể viết cái tên nhỏ bé của mình lên. 

Ông ấy quay lại, và bây giờ ông ấy đã hiểu rằng người giữ cổng là đúng khi không cho vợ ông ấy và các tướng chỉ huy và tể tướng của ông ấy và những người bạn thân thiết khác vào. Cũng tốt là họ đã không thấy tình huống này. Họ vẫn có thể tin rằng hoàng đế của họ là người hiếm hoi. 

Ông ấy bảo người giữ cổng vào bên trong và ông ấy nói, "Nhưng không còn chỗ nữa!" 
Người giữ cổng nói, "Đó là điều tôi đã bảo ông. 
Điều ông phải làm là xoá đi vài cái tên và viết tên của ông vào. Đó là điều đã được làm; cả đời mình tôi đã thấy điều này được làm, bố tôi thường nói điều này đã được làm. Bố của bố tôi - không ai trong gia đình tôi đã từng thấy Sumeru trống rỗng, hay còn chỗ nào. 

"Bất kì khi nào một chakravartin mà tới thì người đó đều phải xoá đi vài cái tên và viết tên riêng của mình vào. Cho nên đây không phải là toàn thể lịch sử của các chakravartins. Nhiều lần nó đã bị xoá đi, nhiều lần, nó đã được khắc vào. Ông làm việc của mình đi, và thế rồi nếu ông muốn chỉ cho bạn bè mình ông có thể đưa họ vào." 

Hoàng đế nói, "Không, tôi không muốn cho họ xem và tôi không muốn ngay cả việc viết tên mình. Phỏng có ích gì? - một ngày nào đó ai đó sẽ tới và xoá nó đi. "Toàn thể cuộc sống của tôi đã trở thành hoàn toàn vô nghĩa. Đây đã là hi vọng duy nhất của tôi, rằng Sumeru, quả núi vàng trên trời sẽ có tên tôi. Vì điều này tôi đã sống, vì điều này tôi đã liều cả cuộc sống của mình; vì điều này tôi đã sẵn sàng giết toàn thể thế giới. Và bất kì ai khác cũng đều có thể xoá tên tôi đi và viết tên mình vào. Phỏng có ích gì mà viết nó đây? Tôi sẽ không viết tên đâu." Người giữ cổng cười to. 
Hoàng đế nói, "Sao ông lại cười?" 
Người giữ cổng nói, "Điều này kì lạ đây, bởi vì điều này nữa tôi đã từng nghe từ ông nội tôi - rằng chakravartin tới, và thấy toàn thể câu chuyện này, đều quay lại; họ không viết tên mình nữa. Ông không phải là mới: bất kì ai có chút ít thông minh cũng sẽ làm hệt như vậy."

Trong toàn thế giới này bạn có thể kiếm được cái gì? Bạn có thể đem cái gì đi cùng mình? Tên tuổi bạn, uy tín của bạn, kính trọng của bạn ư? Tiền của bạn, quyền lực của bạn - cái gì? Uyên bác của bạn sao? 

Bạn không thể đem được cái gì đi cả. Mọi thứ sẽ phải bị vứt lại ở đây. Và trong khoảnh khắc đó bạn sẽ hiểu rằng tất cả mọi thứ bạn đã sở hữu đều không phải là của bạn; chính ý tưởng sở hữu là sai. Và bởi vì việc sở hữu đó mà bạn bị biến chất. 

Làm tăng sự sở hữu đó - có nhiều tiền hơn, có nhiều quyền lực hơn, chinh phục nhiều đất đai hơn - bạn đã làm những điều mà ngay cả bạn cũng không thể nói là đúng được. Bạn đã nói dối, bạn đã không chân thực. Bạn đã có hàng trăm bộ mặt. Bạn đã không thực cho dù chỉ một khoảnh khắc với bất kì ai hay với chính mình; bạn không thể hiện hữu được. Bạn phải giả tạo, rởm, giả vờ, bởi vì đây là những thứ giúp cho bạn thành công trong thế giới này. Tính đích thực sẽ không giúp gì cho bạn cả. Sự chân thực sẽ không giúp ích gì cho bạn cả. Tính chân lí sẽ không giúp ích gì cho bạn cả. 

Không sở hữu, thành công, danh vọng, bạn là ai? Bạn không biết. Bạn là cái tên của mình, bạn là danh tiếng của mình, bạn là uy tín của mình, quyền lực của mình. Nhưng khác hơn những điều này, bạn là ai? 

Cho nên toàn thể tính sở hữu trở thành sự đồng nhất của bạn. Nó cho bạn cảm giác giả tạo về hiện hữu. Đó là bản ngã. 

Bản ngã không phải là cái gì đó bí ẩn, nó là một hiện tượng rất đơn giản. Bạn không biết mình là ai, và sống mà không biết mình là ai là điều không thể được. Nếu tôi không biết tôi là ai, thế thì tôi đang làm gì ở đây? Thế thì bất kì điều gì tôi làm cũng đều trở thành vô nghĩa. Điều đầu tiên và cao nhất là biết mình là ai. Có lẽ thế thì tôi mới có thể làm điều gì đó hoàn thành cho bản tính của tôi, làm cho tôi được mãn nguyện, đem tôi về nhà. 

Nhưng nếu tôi không biết mình là ai, và tôi cứ làm mọi thứ, làm sao tôi có thể xoay xở tới được chỗ bản tính của tôi được giả định đạt tới, dẫn tới? Tôi đã chạy hết chỗ nọ chỗ kia nhưng chẳng có điều gì tôi có thể nói, "Bây giờ mình đã đạt tới rồi, đây là chỗ mình đã từng tìm kiếm." 

Bạn không biết mình là ai, cho nên một căn cước giả tạo nào đó là cần thiết như cái thay thế. Sở hữu của bạn cho bạn căn cước giả tạo đó. Bạn tới với một người quan sát hồn nhiên vào thế giới này. Mọi người đều tới theo cùng cách, với cùng phẩm chất của tâm thức. Nhưng bạn bắt đầu mặc cả với thế giới của những người đã trưởng thành. Họ có nhiều thứ cho bạn; bạn chỉ có một thứ để cho, và đó là tính chính trực của bạn, lòng tự trọng của bạn. Bạn không có nhiều, chỉ một thứ thôi - bạn có thể gọi nó là bất kì cái gì: hồn nhiên, thông minh, tính đích thực. Bạn chỉ có một thứ. Và đứa trẻ tự nhiên rất quan tâm tới mọi thứ nó thấy xung quanh. Nó liên tục muốn có cái này, có cái nọ; đó là một phần của bản tính con người. Nếu bạn nhìn vào đứa trẻ nhỏ, ngay cả đứa trẻ mới sinh, bạn có thể thấy nó đã bắt đầu dò dẫm vì cái gì đó; tay nó đang cố gắng tìm cái gì đó. Nó đã bắt đầu cuộc hành trình.Trong cuộc hành trình này nó sẽ làm mất bản thân mình, bởi vì bạn không thể có được cái gì trong thế giới này mà không trả lại cho nó. Và đứa trẻ đáng thương không thể hiểu được rằng cái nó đem cho đi lại quí giá tới mức nếu toàn thể thế giới có ở một bên, và tính chính trực của nó ở bên kia, thì thế nữa tính chính trực của nó vẫn nặng hơn, có giá trị hơn. Đứa trẻ không có cách nào biết được điều đó. Đây là vấn đề, bởi vì cái nó có được, nó đơn giản có được. Nó lấy cứ như được cho không. 

Để tôi kể cho bạn một câu chuyện sẽ làm cho điều đó thành rõ ràng. 

Một người giầu, rất giầu, cuối cùng đã trở nên rất thất vọng - cũng là kết quả tự nhiên của mọi thành công. Chẳng cái gì thất bại như thành công. Thành công có ý nghĩa chỉ nếu bạn thất bại. Một khi bạn thành công, bạn biết rằng bạn đã bị lừa bởi thế giới, bởi mọi người, bởi xã hội. Người này có mọi sự giầu có nhưng lại không an bình tâm trí. Người đó bắt đầu tìm an bình tâm trí. 

Đó là điều đang xảy ra ở Mĩ. Ở Mĩ mọi người đều đi tìm an bình tâm trí hơn bất kì nơi nào khác. Ở Ấn Độ tôi chưa bao giờ bắt gặp người đang đi tìm an bình tâm trí. An bình dạ dầy phải được chăm lo trước hết - an bình tâm trí còn quá xa vời. Từ dạ dầy tới tâm trí cách xa nhau gần như cả triệu dặm. 

Nhưng ở Mĩ mọi người đều đi tìm an bình tâm trí, và tất nhiên khi bạn đi tìm nó, thế thì sẽ có người sẵn sàng trao nó cho bạn. Đây là luật kinh tế đơn giản: bất kì chỗ nào có cầu sẽ có cung. Chẳng thành vấn đề liệu bạn đang đòi hỏi cái gì cho nhu cầu thực của mình. Mà cũng chẳng ai bận tâm về việc cung sẽ trao cho bạn cái gì - liệu đấy chỉ là quảng cáo, tuyên truyền hư huyễn, hay có cái gì đó bản chất. 

Việc biết nguyên tắc đơn giản này, rằng bất kì chỗ nào có cầu thì sẽ có cung, người tinh ranh và láu lỉnh đã tiến thêm một bước nữa. Bây giờ họ nói, "Không cần chờ đợi cầu xảy ra, ta tạo ra cầu." Và đó là toàn bộ nghệ thuật quảng cáo: nó tạo ra nhu cầu. 

Trước khi đọc quảng cáo bạn không có nhu cầu như vậy, bạn chưa bao giờ cảm thấy rằng đây là cái cần cho bạn. Nhưng đọc quảng cáo, bỗng nhiên bạn cảm thấy, "Trời đất, mình đã bỏ lỡ nó rồi. Và mình lại là kẻ ngu tới mức mình chẳng bao giờ biết điều này tồn tại." 

Trước khi ai đó bắt đầu chế tạo ra cái gì đó, sản xuất ra cái gì đó, thậm chí nhiều năm sắp tới - ba, bốn năm tới - người đó bắt đầu quảng cáo. Thứ này còn chưa có đó trên thị trường bởi trước hết nhu cầu phải vươn tới tâm trí mọi người. Và một khi cầu có đó, thì đến lúc đó cung sẽ sẵn sàng. Bernard Shaw đã nói rằng khi ông ấy mới nổi và ông ấy xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình, tất nhiên không có nhu cầu - chẳng ai đã từng nghe nói tới George Bernard Shaw. Làm sao bạn có thể yêu cầu, "Tôi muốn cuốn sách của George Bernard Shaw, vở kịch của ông ấy?" Cho nên điều ông ấy thường làm cả ngày... Ông ấy xuất bản sách - bản thân ông ấy là nhà xuất bản, ông ấy đổ tiền của mình vào - và thế rồi ông ấy đi từ hiệu sách nọ sang hiệu sách kia mà hỏi, "Các ông có sách của George Bernard Shaw không?" 

Ở Mĩ mọi người đều đi tìm an bình tâm trí hơn bất kì nơi nào khác. Ở Ấn Độ tôi chưa bao giờ bắt gặp người đang đi tìm an bình tâm trí. An bình dạ dầy phải được chăm lo trước hết.

Họ nói, "George Bernard Shaw nào? Chúng tôi chưa bao giờ nghe thấy cái tên này." 
Ông ấy nói, "Kì lạ thế, một người vĩ đại thế mà các ông lại chưa bao giờ biết tới ông ấy và các ông lại quản lí cả hiệu sách? Các ông có bị lạc hậu hay cái gì đó không? Điều đầu tiên các ông phải làm là lấy sách của George Bernard Shaw." Ông ấy đã xuất bản mỗi một cuốn sách nhưng ông ấy đã bắt đầu quảng cáo cho nhiều cuốn sách, bởi vì khi đi đây đó, tại sao lại chỉ quảng cáo có một cuốn sách thôi? Và một cuốn sách không làm cho người ta thành nhà văn lớn. 

Ông ấy sẽ đi trong các bộ trang phục khác nhau - lúc thì có mũ, lúc thì có kính. Và mọi người bắt đầu dừng lại nhà George Bernard Shaw. Và ông ấy phải làm tất cả những điều này - quảng cáo, cung cấp; đó là cách ông ấy đã bán cuốn sách đầu tiên của mình. 

Ông ấy hỏi mọi người trên phố, "Ông đã đọc chưa ... bởi vì tôi nghe nói nhiều về cuốn sách nào đó do một ông George Bernard Shaw nào đó viết. Mọi người nói nó hay lắm, kì thú lắm. Ông có biết không?" 
Họ sẽ nói, "Không, chúng tôi chưa bao giờ biết tới cái tên đó." 
Ông ấy nói, "Điều này lạ thật. Tôi cứ tưởng London là xã hội có văn hoá." Và ông ấy đi tới thư viện và câu lạc bộ và ở mọi nơi có khả năng tạo ra nhu cầu, và ông ấy đã tạo ra nhu cầu này. Ông ấy đã bán sách, và chung cuộc - đó là điều ông ấy đã liên tục làm - chung cuộc ông ấy đã trở thành một trong những nhà văn vĩ đại nhất của thời đại này. Ông ấy đã tạo ra nhu cầu. 

Nhưng nếu bạn thành công, chẳng cần bất kì ai tạo ra nhu cầu an bình tâm trí. Nếu bạn thành công, bạn sẽ đánh mất sự an bình tâm trí theo một cách nào đó. Đó là tiến trình tự nhiên. Thành công lấy đi mọi an bình khỏi tâm trí bạn. Nó đơn giản hút hết mọi thứ có ý nghĩa trong cuộc sống: an bình, im lặng, vui sướng, tình yêu. Nó cứ lấy đi mọi thứ khỏi bạn. 

Chung cuộc tay bạn đầy những đồ đồng nát, và mọi thứ có giá trị đều bị mất. Và bỗng nhiên bạn nhận ra cần có an bình tâm trí. 

Lập tức có nhà cung cấp, người không biết gì về tâm trí cả, người không biết gì về an bình cả. Tôi đã đọc một cuốn sách mang tựa đề An bình của tâm trí của một giáo sĩ Do Thái, Joshua Liebman. Tôi đã đọc qua toàn bộ cuốn sách này; ông này chẳng biết gì về an bình cũng chẳng biết gì về tâm trí cả. Nhưng ông ấy là nhà kinh doanh. Ông ấy đã làm một việc tốt mà chẳng biết gì về an bình tâm trí cả. 

Cuốn sách của ông ấy là một trong những cuốn sách bán chạy nhất trên thế giới bởi vì bất kì ai muốn an bình tâm trí sớm hay muộn nhất định phải tìm tới sách của Joshua Liebman. Và ông ấy đã viết nó thực hay. Ông ấy là nhà văn giỏi, rất thạo nói chuyện, gây ấn tượng; bạn sẽ bị ảnh hưởng bởi điều đó. Nhưng an bình tâm trí sẽ vẫn còn xa xăm như nó đã vậy trướcđây, hay nó thậm chí còn có thể ra xa hơn bằng việc bạn đọc cuốn sách này. 

Thực tế, nếu một người biết an bình là gì, và tâm trí là gì, người đó không thể viết ra cuốn sách với tựa đề An bình của tâm trí, bởi vì tâm trí là nguyên nhân của mọi sự không an bình, tất cả mọi bất ổn của nó. 

An bình là khi không có tâm trí. Cho nên an bình tâm trí - không hàng hoá nào như thế này tồn tại cả. Nếu tâm trí có đó, thế thì an bình không có đó. Nếu an bình có đó thế thì tâm trí không có. Nhưng viết cuốn sách "An bình của vô trí "... không ai sẽ mua nó đâu. Tôi đã từng nghĩ... nhưng tôi đã nghĩ, chẳng ai đi mua "An bình của vô trí" đâu. Điều đó sẽ không tạo ra cảm giác cho họ, nhưng điều đó đích xác là chân lí. 

Đứa trẻ là không nhận biết về điều nó đã đem theo mình. Người giầu này đang ở cùng hoàn cảnh. Người đó có tất cả mọi giầu sang trên thế giới này, và bây giờ người đó đang đi tìm an bình tâm trí. Người đó đi hết hiền nhân nọ sang hiền nhân kia và tất cả đều cho những lời khuyên lớn lao, nhưng lời khuyên lại chẳng giúp được cho ai cả. 

Thực tế chỉ kẻ ngu mới cho lời khuyên, và chỉ kẻ ngu mới nhận lời khuyên. Người trí huệ rất ngần ngại cho bạn lời khuyên bởi vì người trí huệ chắc chắn biết rằng điều duy nhất trên thế giới này được cho không là lời khuyên, và rằng cái không bao giờ được lấy đi bởi bất kì ai là lời khuyên, cho nên sao phải bận tâm? 

Người trí huệ trước hết chuẩn bị bạn để cho bạn có thể nhận được lời khuyên. Người đó không đơn giản cho bạn lời khuyên; bạn cần được chuẩn bị. Có thể phải mất nhiều năm để chuẩn bị bạn, để chuẩn bị mảnh đất, và chỉ thế thì bạn mới có thể gieo được hạt mầm. Sẽ là người ngu nếu bạn cứ đơn giản vung vãi hạt giống lên đá tảng và đá cuội mà thậm chí chẳng bận tâm rằng mình đang phí hoài hạt mầm. 

Tất cả các hiền nhân đều cho người đó lời khuyên nhưng chẳng cái gì thành công cả. Cuối cùng một người mà người đó đã không hỏi, người theo bất kì cách nào đều không là người nổi tiếng - ngược lại người bị coi là kẻ ngốc của làng - người này một hôm chặn ông ta lại giữa đường và nói, "Ông làm phí hoài không cần thiết thời gian của mình: chẳng ai trong số người đó là hiền nhân đâu. Tôi biết tỏng về họ, nhưng bởi vì tôi là kẻ ngốc nên chẳng ai tin tôi cả. Có lẽ ông cũng sẽ không tin tôi, nhưng tôi biết một hiền nhân. "Cứ thấy ông bị hành hạ liên tục thế về an bình tâm trí, tôi nghĩ tốt hơn cả là tôi chỉ cho ông đúng người. Bằng không tôi là kẻ ngốc; chẳng ai hỏi tôi về lời khuyên và tôi cũng chẳng bao giờ cho bất kì ai bất kì lời khuyên nào. Nhưng điều đó là quá đáng: thấy ông buồn thế và khổ thế, tôi phá vỡ im lặng của mình. 

Ông tới người này ở làng bên cạnh." Người giầu này đi ngay lập tức, mang theo một cái túi lớn đầy những kim cương quí giá, trên con ngựa đẹp của mình. Ông ấy tới đó, ông ấy thấy người đó - người đã được người Sufi biết tới chính là Mulla Nasruddin. 
Ông ta hỏi Mulla, "Ông có thể giúp tôi an bình tâm trí được không?"
Mulla nói, "Giúp à? Tôi có thể đem nó cho ông được đấy." 
Người giầu nghĩ, "Điều này thật kì lạ. Trước hết kẻ ngốc kia đã gợi ý... và chỉ vì thất vọng mà mình nghĩ cũng chẳng hại gì, cho nên mình mới tới đây. Kẻ này dường như thậm chí còn là kẻ ngốc lớn hơn: anh ta nói, 'Tôi có thể đem nó cho ông được đấy.'" 
Người giầu nói, "Ông có thể đem nó cho tôi sao? Tôi đã từng ở với đủ mọi loại hiền nhân; họ tất cả đều cho lời khuyên - làm cái này, làm cái nọ, tự xếp mình vào kỉ luật, làm từ thiện, giúp người nghèo, mở bệnh viện, thế này thế nọ. Họ nói tất cả những điều này, và trong thực tế tôi đã làm tất cả những điều đó; chẳng cái gì có ích cả. Thực tế ngày càng nhiều rắc rối nảy sinh hơn. Và ông nói ông có thể đem nó cho tôi sao?" 
Mulla nói, "Đơn giản lắm. Ông xuống ngựa đi." 
Thế là người giầu xuống ngựa. Ông ta vẫn cầm chiếc túi của mình, và Mulla hỏi, "Ông đang giữ cái gì trong túi gần tim ông thế?" 
Ông ta nói, "Đây toàn là kim cương quí giá cả. Nếu ông có thể cho tôi an bình, tôi sẽ cho ông cái túi này|." Nhưng trước khi ông ta thậm chí có thể hình dung ra điều gì xảy ra, Mulla đã lấy mất chiếc túi và chạy biến! 

Nếu một người biết an bình là gì, và tâm trí là gì, người đó không thể viết ra cuốn sách với tựa đề An bình của tâm trí, bởi vì tâm trí là nguyên nhân của mọi sự không an bình, tất cả mọi bất ổn của nó. An bình là khi không có tâm trí. Cho nên an bình tâm trí - không hàng hoá nào như thế này tồn tại cả.

Người giầu này, trong một chốc, bị choáng váng; ông ta thậm chí không thể hiểu nổi phải làm gì. Và thế rồi ông ta phải đuổi theo anh ta. Nhưng đấy là thị trấn riêng của Mulla - anh ta biết mọi phố xá và lối tắt, và anh ta lại chạy nữa. Người giầu này chưa bao giờ chạy cả đời mình và ông ta béo thế... Ông ta kêu khóc và thở hổn hển và phì phò, và nước mắt lăn dài. Ông ta nói, "Tôi đã bị lừa hoàn toàn rồi! Người này đã lấy đi công trình khó nhọc của cả đời tôi, nguồn sống của tôi; mọi thứ nó đã lấy đi mất rồi." 

Thế là một đám đông theo sau, và tất cả đều cười. Ông ta nói, "Các ông có là lũ ngốc hết cả không đấy? Thị trấn này đầy những kẻ ngốc sao? Tôi đã bị kiệt sức hoàn toàn, và thay vì bắt lấy kẻ trộm thì các ông lại cười." 
Họ nói, "Anh ta không phải là kẻ trộm đâu, anh ta là người rất hiền đấy." 
Người giầu nói, "Kẻ ngốc kia ở làng tôi đã đẩy tôi vào rắc rối này!" Nhưng bằng cách nào đó, chạy, toát mồ hôi, ông ta cũng đuổi theo được Mulla. Mulla quay lại dưới cùng cái cây nơi con ngựa đang đứng. 

Anh ta ngồi xuống dưới gốc cây cùng chiếc túi, và người giầu tới vừa kêu vừa khóc. Mulla nói, "Ông cầm lấy cái túi này đi." Người giầu cầm lấy cái túi và lại đưa nó về gần tim mình. Mulla nói, "Ông cảm thấy thế nào? Ông có thể cảm thấy an bình tâm trí nào đó không?"

Người giầu nói, "Có tôi cảm thấy rất an bình. Ông là người kì lạ thật, và ông có phương pháp kì lạ." Mulla nói, "Chẳng phương pháp kì lạ nào cả - chỉ là toán học đơn giản thôi. Bất kì cái gì ông có, ông bắt đầu coi nó như được cho không. Ông chỉ phải được trao cho một cơ hội để làm mất nó đi; thế thì ngay lập tức ông sẽ trở nên nhận biết về cái ông đã mất. Ông chẳng thu được cái gì mới cả; nó vẫn là cùng cái túi mà ông đã mang đi mà không có an bình tâm trí. Bây giờ cũng cái túi đó ông đang giữ gần tim mình và bất kì ai cũng đều có thể thấy ông trông an bình làm sao, một hiền nhân hoàn hảo! Về nhà đi, và đừng bận tâm tới mọi người." 

Đây là vấn đề cho trẻ con, bởi vì nó tới với hồn nhiên và nó sẵn sàng mua bất kì cái gì, và đổi cái hồn nhiên của mình. Nó sẵn sàng mua bất kì rác rưởi nào đánh đổi bằng dũng cảm của mình. Nó sẵn sàng mua chỉ đồ chơi thôi - và cái gì khác có đó trong thế giới này ngoài đồ chơi? - và đánh mất sự sáng tỏ của mình. Nó sẽ chỉ hiểu ra khi tất cả những đồ chơi này có đó trong sở hữu của nó và nó không thể cảm thấy bất kì niềm vui nào từ chúng, không thể thấy bất kì thành quả nào, bất kì sự hoàn thành nào. Thế thì nó trở nên nhận biết về điều nó đã đánh mất - và bản thân nó đã đánh mất điều đó. 

Trong một thế giới tốt hơn, mọi gia đình sẽ học từ con cái. Bạn đang vội vã dạy chúng thế. Dường như không ai học từ chúng cả, và chúng có nhiều điều để dạy bạn. Và bạn chẳng có gì để dạy chúng cả.

Trong một thế giới tốt hơn, mọi gia đình sẽ học từ con cái. Bạn đang vội vã dạy chúng thế. Dường như không ai học từ chúng cả, và chúng có nhiều điều để dạy bạn. Và bạn chẳng có gì để dạy chúng cả. 

Chỉ bởi vì bạn già hơn và mạnh hơn mà bạn bắt đầu làm cho chúng giống như bạn mà chẳng hề nghĩ tới bạn là gì, bạn đã đạt tới đâu, trạng thái của bạn là gì trong thế giới bên trong. Bạn là người nghèo túng; và bạn muốn điều tương tự cho con bạn sao? Nhưng chẳng ai nghĩ cả; bằng không thì mọi người sẽ học được từ trẻ nhỏ rồi. Trẻ con đem nhiều thứ từ thế giới khác tới, bởi vì chúng là những người mới tới tươi tắn thế. Chúng vẫn mang im lặng của bụng mẹ, im lặng của chính sự tồn tại này. 

BAO GIỜ CŨNG HÃY NHỚ, TIN CẬY VÀO CÁI KHÔNG BIẾT. Cái biết là tâm trí. Cái không biết không thể là tâm trí được. Nó có thể là cái gì đó khác nhưng nó không thể là tâm trí được. Một điều chắc chắn về tâm trí là ở chỗ tâm trí là cái đã biết được tích luỹ lại. Cho nên, chẳng hạn, nếu bạn bắt gặp ngã ba đường và tâm trí nói 'Đi theo đường này, đường này là quen thuộc' - đó là tâm trí. Nếu bạn nghe theo bản thể mình, nó sẽ muốn đi theo cái không quen thuộc, cái không biết. Bản thể bao giờ cũng là kẻ phiêu lưu. Tâm trí lại rất chính thống, rất bảo thủ. Nó muốn đi theo rãnh, theo con đường mòn, lặp đi lặp lại - con đường ít trở ngại nhất. 

Cho nên bao giờ cũng nghe theo cái không biết đi. Và thu lấy dũng cảm để đi vào cái không biết. Trưởng thành theo định mệnh của bạn cần dũng cảm lớn lao, nó cần vô sợ hãi. Những người đầy sợ hãi không thể vượt ra ngoài cái đã biết. Cái đã biết cho một loại thoải mái, an ninh, an toàn nào đó bởi vì nó đã được biết tới. Người ta hoàn toàn nhận biết, người ta biết cách đối phó nó. Người ta có thể vẫn còn gần như ngủ và cứ đối phó nó - không cần phải thức tỉnh; đó là tiện lợi với cái đã biết. 

Khoảnh khắc bạn bước qua biên giới của cái đã biết, sợ hãi nảy sinh, bởi vì bây giờ bạn sẽ dốt nát, bây giờ bạn sẽ không biết cái gì cần làm, cái gì không cần làm. Bây giờ bạn sẽ không chắc chắn như thế về bản thân mình, bây giờ có thể phạm phải sai lầm, bạn có thể đi lạc lối. Đó là nỗi sợ làm cho mọi người bị giới hạn vào cái đã biết, và một khi một người bị giới hạn vào cái đã biết, người đó chết. 

Cuộc sống chỉ có thể được sống một cách nguy hiểm - không có cách khác để sống nó. Chỉ qua nguy hiểm mà cuộc sống mới đạt tới trưởng thành, phát triển. Người ta cần là người phiêu lưu, bao giờ cũng sẵn sàng mạo hiểm cái đã biết vì cái không biết. Và một khi người ta đã nếm trải niềm vui của tự do và vô sợ hãi, người ta chẳng bao giờ hối hận bởi vì thế thì người ta biết việc sống ở mức tốt nhất nghĩa là gì. Thế thì người ta biết việc thắp lên ngọn đuốc cuộc sống của mình từ cả hai đầu nghĩa là gì. Và ngay cả một khoảnh khắc của sự mãnh liệt đó cũng làm hài lòng hơn toàn thể cái vĩnh hằng của việc sống tầm thường.