Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Lãi suất ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán như thế nào?


Lãi suất ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán như thế nào?

Câu chuyện về lạm phát, lãi suất cùng với sự chững lại của thị trường chứng khoán thời gian gần đây dường như đang thu hút sự quan tâm lớn của nhiều người. Trong phạm vi bài viết này, tôi mạn phép xin được lạm bàn một chút về mối quan hệ giữa lãi suất và thị trường chứng khoán. Giữa chúng thật ra có mỗi quan hệ thế nào? Và chúng ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta ra sao?

Lãi suất
Bình thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà một ngưòi phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Đối với hầu hết chúng ta thì thuật ngữ” lãi suất” có lẽ là không có gì xa lạ. Nếu ai đã từng có vay tiền của ngân hàng để trang trải chi phí học hành, hay để mua nhà trả góp theo các chương trình hấp dẫn của các ngân hàng, hay đơn giản là vay vốn về đầu tư cho các dự án đang cần tài trợ thì hơn ai hết họ là những người hiểu rõ nhất về “lãi suất”. Thế nhưng câu chuyện về lãi suất khi nó chạy sang thị trường chứng khoán lại không dừng lại ở đó. Thuật ngữ “ lãi suất” mà chúng ta đề cập ở đây vượt xa hơn ý nghĩa của chính nó trong các ví dụ trên.

Lãi suất có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nhà đầu tư chính là lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương (ở VN là ngân hàng nhà nước). Lãi suất chiết khấu là chi phí mà các ngân hàng thuơng mại phải trả cho việc vay tiền từ ngân hàng trung ương. Nói rõ ràng hơn thì khi các ngân hàng thương mại cần tiền, họ có thể vay ở ngân hàng trung ương bằng cách mang chiết khấu các giấy tờ có giá với một lãi suất do ngân hàng trung ương công bố từ trước, gọi là lãi suất chiết khấu. 
  • Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơnlãi suất thị trường thì ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục cho vay đến khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho phép vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ ngân hàng trung ương mà không phải chịu bất kỳ thiệt hại nào.
  • Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, các ngân hàng thương mại khôngthê thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm xuống đến mức tối thiểu cho phép, thậm chí phải dự trữ m tiền mặt để tránh phải vay tiền từ ngân hàng trung ương với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từ phía khách hàng.

Nhưng tại sao con số này lại quan trọng đến như vậy?


Bởi đó là một trong những cách hữu hiệu nhất mà ngân hàng trung ương nỗ lực để kiểm soát lạm phát. Hiện tượng sức mua của tiền bị giảm, đồng tiền mất giá liên tục trong một thời gian dài, không phải do các yếu tố bất thường gây ra thì đó chính là lạm phát. Không một quốc gia nào muốn để lạm phát ở mức cao. Việt Nam cũng không nằm ngoài mục tiêu đó, chúng ta đang cố gắng khống chế tỷ lệ lạm phát ở mức 8%. Bằng việc thay đổi lãi suất chiết khấu, ảnh hưởng đến lượng cung tiền trong xã hội, ngân hàng trung ương hy vọng có thể kiểm soát lạm 1068516.jpgphát. Đây cũng là cách làm phổ biến của hầu hết các quốc gia.

Hiểu một cách cơ bản nhất thì khi ngân hàng trung ương gia tăng lãi suất chiết khấu tức là họ đang nỗ lực làm cho lượng cung tiền trong xã hội giảm bằng cách tạo chi phí vay tiền đắt hơn.

Hiệu ứng của sự gia tăng lãi suất chiết khấu
 

Khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu, việc này sẽ không tác động ngay lập tức lên thị trường chứng khoán. Thay vì vậy, lãii suất chiết khấu lại có những tác động trực tiếp theo cách của riêng nó. Nó khiến cho việc vay tiền của ngân hàng thương mại từ ngân hàng trung ương trở nên đắt hơn. Tuy nhiên, sự gia tăng lãi suất chiết khấu không chỉ dừng lại ở đó, nó còn tạo nên tác động lan truyền ảnh hưởng đến hầu hết các cá nhân và doanh nghiệp.

Tác động gián tiếp đầu tiên của việc gia tăng lãi suất chiết khấu: các ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay đối với khách hàng. Khách hàng cá nhân bị ảnh hưởng thông qua việc lãi suất tăng đối với thẻ tín dụng và các khoản vay ngắn hạn khác. Song song đó, các cá nhân cũng có thể sẽ hạn chế mức vay nợ xuống, do vậy lúc này người tiêu dùng sẽ có ít tiền hơn để chi tiêu. Sau cùng, mỗi tháng mọi người đêù phải trả tiền cho các hoá đơn và khi các hoá đơn này trở nên đắt hơn thì khoản thu nhập dự phòng của mỗi gia đình sẽ trở nên ít hơn.

Lãi suất chiết khấu tác động đến các khách hàng tiêu dùng cá nhân, đến lượt mình sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng cá nhân lại ảnh hưởng đến các doanh nghiệp, tuy nhiên với doanh nghiệp ảnh hưởng của sự tăng lãi suất chiết khấu không chỉ có thế, họ còn chịu tác động nhiều hơn. Dễ thấy, chính bản thân các doanh nghiệp cũng cần vay tiền từ ngân hàng thương mại để duy trì hoạt động và mở rộng sản xuất. Một khi các khoản vay từ ngân hàng trở nên đắt hơn thì các doanh nghiệp sẽ có tâm lý ngại vay tiền và thực tế thì họ phải trả lãi suất cao hơn cho các khoản vay. Với một doanh nghiệp trong thời kỳ tăng trưởng thì điều này có thể tác động nghiêm trọng, doanh nghiệp phải thu hẹp phạm vi hoạt động và kết quả là lợi nhuận bị giảm sút.

Tác động đến thị trường chứng khoán
 

Rõ ràng, sự thay đổi trong lãi suất chiết khấu đã ảnh hưởng đến hành vi của các cá nhân cũng như các doanh nghiệp, nhưng câu chuyện không chỉ có như vậy mà thị trường chứng khoán cũng bị ảnh hưởng. Như chúng ta đã biết, một trong những cách để định giá một doanh nghiệp chính là đưa tất cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện tại. Lấy giá trị của doanh nghiệp chia cho số lượng cố phần đang lưu hành ta có giá trị một cổ phần. Gía chứng khoán thay đổi tuỳ theo các kỳ vọng khác nhau của nhà đầu tư về công ty ở các thời điểm khác nhau. Do đó mà nhà đầu tư sẵn sàng mua hoặc bán cổ phần ở các mức giá khác nhau.

Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu tư tăng trưởng hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợ tăng cao hoặc là doanh thu sụp giảm do người tiêu dùng thì dòng tiền tương lai được dự đoán sẽ giảm đi. Và hệ quả là giá cổ phần của doanh nghiệp sẽ thấp xuống. Nếu số lượng doanh nghiệp trên TTCK có sự sụp giảm này đủ lớn thì xét toàn bộ thị trường, chỉ số thị trường chứng khoán sẽ giảm.

Tác động đến đầu tư

Đối với nhiều nhà đầu tư, thị trường đi xuống hoặc giá chứng khoán sụt giảm là điều không hề mong muốn. Nhà đầu tư nào cũng kỳ vọng giá trị khoản đầu tư của mình sẽ không ngừng tăng lên, có thể là ở dạng lãi vốn, cổ tức hoặc cả hai. Nhưng với kỳ vọng về sự tăng trưởng trong tương lai thấp hơn và dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp không tốt như mong đợi, chắc chắn không nhà đầu tư thông minh nào tiếp tục đánh giá cao doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ mong đợi ít hơn khi sở hữu các cổ phần.

Hơn nữa, đầu tư vào cổ phiếu có thể được xem là rủi ro hơn so với việc đầu tư vào các lĩnh vực khác. Khi ngân hàng trung ương công bố tăng lãi suất chiết khấu, thường sẽ kèm theo là các chứng khoán chính phủ mới được phát hành thí dụ như trái phiếu chính phủ. Đây được xem là cơ hội đầu tư an toàn nhất. Nói cách khác, lúc này tỷ suất sinh lợi phi rủi ro sẽ tăng và do đó đầu tư vào trái phiếu chính phủ và các cơ hội đầu tư tương tự trở nên hấp dẫn hơn. Nếu nhà đầu tư vẫn tiếp tục trung thành với các cổ phiếu thì họ sẽ nâng tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của mình lên để bù đắp cho phần rủi ro tăng thêm một lượng gọi là phần bủ rủi ro. Tỷ suất sinh lợi mong đợi từ việc nắm giữ cổ phiếu bao gồm tổng của tỷ suất sinh lợi phi rủi ro và phần bù rủi ro thị trường. Dĩ nhiên là độ lớn của phần bù rủi ro khác nhau với mỗi nhà đầu tư, tuỳ thuộc vào khả năng chịu đựng rủi ro cũng như doanh nghiệp mà họ đầu tư. Tuy nhiên nói một cách tổng quát thì, khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu, lãi suất phi rủi ro cũng tăng theo, và do đó tổng tỷ suất sinh lợi đầu tư đòi hỏi cũng sẽ tăng. Do vậy, nếu phần bù rủi ro đòi hỏi giảm trong khi tỷ suất sinh lợi tiềm năng vẫn như cũ hoặc thậm chí là thấp hơn, thì chắc là nhà đầu tư sẽ cảm thấy đầu tư vào cổ phiếu trở nên rủi ro hơn và kết quả là họ sẽ chuyển tiền của mình vào các lĩnh vực đầu tư khác.

Thay lời kết
Lãi suất ảnh hưởng nhưng không quyết định thị trường chứng khoán


Lãi suất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài, ti vi, mạng internet dễ dàng được người tiêu dùng biết đến và thật sự thì nó có một tác động rộng lớn khác nhau đối với cả nền kinh tế. Khi lãi suất chiết khấu gia tăng, hiệu ứng tổng thể là nó sẽ làm giảm lượng cung tiền nhằm mục đích duy trì lạm phát ở mức thấp. Nó cũng làm cho việc vay tiền của các cá nhân và doanh nghiệp trở nên đắt hơn, nó tác động đến hành vi tiêu dùng của các cá nhân và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp, gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp, khiến cho thu nhập thấp hơn và cuối cùng là nó có khuynh hướng làm cho thị trường chứng khoán trở nên kém hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

Tuy nhiên phải luôn nhớ rằng, mỗi sự kiện và kết quả luôn có liên hệ với nhau. Lãi suất không phải là yếu tố có tính quyết định đối với giá chứng khoán và có rất nhiều cách thức khác nhau để xem xét sự thay đổi của giá chứng khoán và khuynh hướng thị trường - một sự gia tăng trong lãi suất chiết khấu chỉ là một trong những cách đó. Do vậy, không ai có thể tự tin nói rằng một công bố gia tăng lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương có thể tạo nên ảnh hưởng xấu đến toàn bộ giá chứng khoán.

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012



Tổng Cộng 11 Huyệt



1.Trung phủ

2.Vân môn

3.Thiên phủ

4.Hiệp bạch

5.Xích trạch

6.Khổng tối

7.Liệt khuyết

8.Kinh cừ

9.Thái uyên

10.Ngư tế

11.Thiếu thương




LỘ TRÌNH VÀ HỘI CHỨNG BỆNH CỦA 12 KINH CHÍNH


I. ĐẠI CƯƠNG

Mười hai kinh chính là phần chính của học thuyết Kinh lạc, gồm:

- Ba kinh âm ở tay:

+ Kinh thủ thái âm Phế

+ Kinh thủ thiếu âm Tâm

+ Kinh thủ quyết âm Tâm bào.

- Ba kinh dương ở tay:

+ Kinh thủ dương minh Đại trường

+ Kinh thủ thiếu dương Tam tiêu

+ Kinh thủ thái dương Tiểu trường.

- Ba kinh âm ở chân:

+ Kinh túc thái âm Tỳ

+ Kinh túc quyết âm Can

+ Kinh túc thiếu âm Thận.

- Ba kinh dương ở chân:

+ Kinh túc thái dương Bàng quang

+ Kinh túc thiếu dương Đởm

+ Kinh túc dương minh Vị.

Mỗi kinh chính đều có vùng phân bố nhất định ở mặt ngoài của thân thể và tạng phủ bên trong. Vì vậy, mỗi kinh đều bao gồm một lộ trình bên ngoài và một lộ trình bên trong.

Mỗi kinh đều có sự liên lạc giữa tạng và phủ có quan hệ biểu (ngoài nông) - lý (trong sâu), cho nên mỗi đường kinh đều có những phân nhánh để nối liền với kinh có quan hệ biểu lý với nó (ví dụ nối giữa phế và đại trường, giữa can và đởm...

II. CHỨC NĂNG SINH LÝ CỦA ĐƯỜNG KINH

Về chức năng, kinh mạch là nơi tuần hoàn của khí huyết đi nuôi dưỡng toàn thân để duy trì hoạt động bình thường của cơ thể, làm trơn khớp, nhuận gân xương (Linh khu - Bản tạng luận). “Kinh mạch giả, sở dĩ hành huyết khí nhi dinh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết giả dã”.

Đồng thời, kinh mạch cũng là con đường mà tà khí bệnh tật theo đó xâm nhập vào trong cũng như là con đường mà bệnh tật dùng để biểu hiện ra ngoài khi công năng của tạng phủ tương ứng bị rối loạn.

Tác dụng của 12 kinh chính rất quan trọng. Thiên Kinh mạch, sách Linh khu có câu: “Tác dụng của kinh mạch một mặt nói lên chức năng sinh lý bình thường, sự thay đổi bệnh lý của cơ thể; mặt khác có thể dựa vào đó để quyết đoán sự sống chết, để chẩn đoán mọi bệnh, còn dùng nó để điều hòa hư thực, làm quy tắc chỉ đạo lâm sàng cho nên kinh mạch không thể không thông được”. “Kinh mạch giả, sở dĩ năng quyết tử sinh, xử bách bệnh, điều hư thực, bất khả bất thông”.

III. ĐƯỜNG TUẦN HOÀN CỦA 12 KINH CHÍNH

Một cách tổng quát, đường tuần hoàn khí huyết trong 12 kinh chính như sau:

- Ba kinh âm ở tay: đi từ bên trong ra bàn tay.

- Ba kinh dương ở tay: đi từ bàn tay vào trong và lên đầu.

- Ba kinh dương ở chân: đi từ đầu xuống bàn chân.

- Ba kinh âm ở chân: đi từ bàn chân lên bụng ngực.

Chiều của các đường kinh được xác định dựa vào 2 lý thuyết:

Lý thuyết âm thăng (đi lên trên) dương giáng (đi xuống).

Lý thuyết con người hòa hợp với vũ trụ: Thiên - Địa - Nhân.

http://www.benhhoc.com/images.php?do=view&id=1453

Khí huyết vận hành trong kinh mạch, kinh sau tiếp kinh trước và tạo thành một đường tuần hoàn kín đi khắp cơ thể theo sơ đồ dưới đây:

http://www.benhhoc.com/images.php?do=view&id=1454

IV. KHÍ HUYẾT TRONG CÁC ĐƯỜNG KINH

1. Khí huyết trong các đường kinh không giống nhau:

- Kinh thái dương, kinh quyết âm: huyết nhiều, ít khí.

- Kinh thiếu dương, kinh thiếu âm, kinh thái âm: huyết ít, khí nhiều.

- Kinh dương minh: huyết nhiều, khí nhiều.

2. Khí huyết trong các đường kinh thay đổi trong ngày:

- Trương Cảnh Nhạc dẫn lời của Cao Võ (khi bàn luận về thủ thuật châm cứu) nói rằng: “Nghênh có nghĩa là gặp lúc khí lai (đến) (ví dụ: dần thời, khí lai chú vào phế; mão thời, khí lai chú vào đại trường). Bấy giờ là lúc mà khí của phế và đại trường vừa thịnh, phải dùng lúc đoạt để châm tả...”.

- Sự thịnh suy của khí huyết trong từng đường kinh trong ngày:

+ Từ 3 giờ đến 5 giờ: giờ dần (giờ của Phế).

+ Từ 5 giờ đến 7 giờ: giờ mão (giờ của Đại trường).

+ Từ 7 giờ đến 9 giờ: giờ thìn (giờ của Vị).

+ Từ 9 giờ đến 11 giờ: giờ tỵ (giờ của Tỳ).

+ Từ 11 giờ đến 13 giờ: giờ ngọ (giờ của Tâm).

+ Từ 13 giờ đến 15 giờ: giờ mùi (giờ của Tiểu trường) .

+ Từ 15 giờ đến 17 giờ: giờ thân (giờ của Bàng quang).

+ Từ 17 giờ đến 19 giờ: giờ dậu (giờ của Thận).

+ Từ 19 giờ đến 21 giờ: giờ tuất (giờ của Tâm bào).

+ Từ 21 giờ đến 23 giờ: giờ hợi (giờ của Tam tiêu).

+ Từ 23 giờ đến 1 giờ: giờ tý (giờ của Đởm).

+ Từ 1 giờ đến 3 giờ: giờ sửu (giờ của Can).

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

Không lạm dụng xoa bóp, bấm huyệt

Xoa bóp, bấm huyệt là một kích thích cơ học, trực tiếp tác động vào da thịt, thần kinh, mạch máu và các cơ quan cảm thụ gây nên những thay đổi về thần kinh, thể dịch, nội tiết, qua đó nâng cao năng lực hoạt động của hệ thần kinh. Đó là nền tảng đem lại những ứng dụng đột phá trong phòng, điều trị bệnh và nâng cao sức khỏe.

Đây là hai phương pháp thường được phối hợp nhuần nhuyễn trong phòng và chữa bệnh. Trước khi bấm huyệt, bác sỹ cần tiến hành xoa bóp để cơ vùng huyệt mềm mại, tránh tình trạng làm cơ phản ứng đột ngột gây co và tổn thương cơ.

Đối với cơ xương khớp, xoa bóp, bấm huyệt có tác dụng làm giãn cơ, đặc biệt là những nhóm cơ đã bị co cứng trước đó. Xoa bóp, bấm huyệt thường xuyên còn làm tăng tính linh hoạt của khớp và làm giảm khả năng bị chấn thương, cải thiện tư thế.

Ngoài ra, xoa bóp còn kích thích hệ thống lympho, làm tăng miễn dịch và cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể.

Xoa bóp, bấm huyệt tác động trực tiếp lên các thụ cảm thần kinh dày đặc ở dưới da tạo ra các đáp ứng phản xạ thần kinh có tác dụng điều hòa quá trình hưng phấn hay ức chế thần kinh trung ương, làm thư giãn thần kinh, giảm đau, giãn cơ, và cải thiện chức năng tiêu hoá, làm da bóng đẹp.

Xoa bóp còn có nhiều tác dụng phục hồi sức khỏe. Theo y học cổ truyền, xoa bóp, bấm huyệt thông qua tác động vào các huyệt, kinh lạc (kinh cân) có thể đuổi được ngoại tà, thông kinh hoạt lạc và điều hòa chức năng tạng phủ.

Do đó, bấm huyệt còn được kết hợp với châm cứu để trị bệnh. Bấm huyệt trước khi châm cứu sẽ làm tăng tác dụng của châm cứu lên rất nhiều.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp bác sỹ khuyến cáo chỉ nên bấm huyệt mà không được châm cứu như: cơ địa bệnh nhân không chịu được châm cứu, người mắc bệnh tiểu đường…

Khi cơ thể bị mệt mỏi sau thời gian lao động căng thẳng cả về thể xác lẫn tinh thần, xoa bóp, bấm huyệt cũng được xem là giải pháp hiệu quả và nhanh nhất để giúp lấy lại sự thăng bằng và tươi trẻ. Đối với phụ nữ muốn kéo dài tuổi thanh xuân, thường xuyên xoa bóp, bấm huyệt sẽ giữ gìn sức khỏe và sắc đẹp được lâu dài.

Đặc biệt, khi phụ nữ bước sang tuổi trung niên, xoa bóp, bấm huyệt thường xuyên sẽ giúp lưu thông khí huyết và tạo hưng phấn để nội tiết tố được duy trì dồi dào.

Ở người tuổi trung niên, đặc biệt là người cao tuổi, hoạt động của hệ thống cơ xương khớp và tạng phủ đã trì trệ, khí huyết lưu thông kém thì việc xoa bóp, bấm huyệt đều đặn là biện pháp rất tốt giúp khí huyết lưu thông, tăng cường nuôi dưỡng các tế bào và thải độc tố, làm giảm đáng kể quá trình lão hóa và ngăn ngừa phát sinh bệnh tật ở tuổi già.

Những trường hợp không được xoa bóp, bấm huyệt:

- Chấn thương: cả vết thương kín và vết thương hở khi bị tổn thương ở cơ, xương, khớp.

- Vùng bị viêm nhiễm tấy đỏ hoặc lở loét.

- Các chứng bệnh ngoại khoa: viêm ruột thừa, thủng dạ dày, viêm vòi trứng vỡ./.

Cạo gió trong y học cổ truyền chính thống


Cạo gió và những điều cần lưu ý
Nên sử dụng vật cạo gió là củ gừng, vừa an toàn vừa sử dụng được tinh dầu có tính ấm, nóng.
Cạo gió và những điều cần lưu ýNên sử dụng vật cạo gió là củ gừng, vừa an toàn vừa sử dụng được tinh dầu có tính ấm, nóng. Bác sĩ Trịnh Liên Việt, Trưởng khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, có những phân tích và lưu ý về cạo gió.
Cạo gió là phương pháp chữa bệnh dân gian được sử dụng rộng rãi từ xưa đến nay, là cách chữa bệnh rẻ tiền, đơn giản, thuận tiện mọi lúc mọi nơi và có hiệu quả tức khắc.
Chỉ cần một ít dầu gió xoa lên vùng bị đau, nhức mỏi rồi sử dụng một vật cứng, nhẵn như nắp lọ dầu, cái muỗng, đồng xu…. cạo lên vùng đau. Hoặc thậm chí nếu vùng đau ở vị trí không cạo được thì “giật gió" cho đến khi “ lên gió”, vùng da ửng đỏ hoặc đỏ bầm. Sau thao tác này, người bệnh sẽ cảm thấy giảm bớt những triệu chứng khó chịu, bớt nhức mỏi, bớt ớn lạnh, hoặc giảm cảm giác buồn nôn...
Dưới con mắt nhìn của một ông bác sĩ thì cạo gió quả là đáng sợ, vì nhìn vào sẽ thấy cơ thể người bệnh bị bầm dập, ngoằn ngoèo và có rất nhiều nguy cơ làm bệnh nặng thêm. Trước hết là dưới tác động của lực cạo lên phần mềm sẽ làm tổn thương lớp biểu bì và các mô bên dưới, gây bầm dập, rướm máu, gây xuất huyết dưới da, trầy xước vùng cạo gió. Sau nữa, cạo gió là cơ hội gây nhiễm khuẩn tại chỗ, nhiễm một số khuẩn lây lan qua đường máu thông qua vật dụng cạo gió được sử dụng qua nhiều người.
Cạo gió có tính khoa học hay phản khoa học?
Một sự thật hiển nhiên là trong xã hội vẫn tồn tại hình thức cạo gió ở khắp mọi nơi từ trong nhà ra phố chợ, từ khu nhà trọ công nhân đến ký túc xá trường học. Trên thực tế, cạo gió vẫn mang đến ít nhiều hiệu quả tức thì.
Thao tác cạo gió là một hình thức tác động cơ học lên vùng cơ bị nhức mỏi kèm thêm tác dụng ấm nóng của tinh dầu (dầu xoa), đưa đến hiệu quả giãn cơ, giãn mạch máu tại vùng đau nhức, gây giảm co thắt cơ, làm giảm đau. Ngoài ra hương tinh dầu tác động qua da, qua khứu giác gây cảm giác êm dịu thần kinh tại chỗ và toàn thân.
Yếu tố tâm lý được người thân chia sẻ lúc ốm đau bệnh hoạn cũng góp phần làm hưng phấn tinh thần người bệnh. Mà trong một xã hội công nghiệp hiện nay người thầy thuốc với những thao tác khám qua loa, cùng với những viên thuốc vô cảm không phải là địa chỉ đầu tiên mà người bệnh nghĩ tới khi bị mệt mỏi.
Cạo gió trong y học cổ truyền chính thống
Thông thường, vị trí chính để cạo gió là hai bên đường dọc cột sống. Đó là hai bên của đường bàng quang kinh, trên đoạn dọc cột sống thắt lưng là vị trí của các huyệt: Phế du, Tâm du, Cách du, Tỳ du, Vị du, Thận du Đại trường du, Khí hải du Tiểu trường du, Phách hộ, Cao hoang, Thần đường, Cách quan...  Khi tác động lên hai dãy cơ đó, chính là kích thích lên hàng loạt các hoạt động của hệ thống lục phủ ngũ tạng của cơ thể, giúp cơ thể điều hòa lại sự mất quân bình khí huyết âm dương trong cơ thể, nâng cao chính khí, trục đuổi tà khí đang manh nha xâm nhập vào cơ thể.
Theo y học cổ truyền, bàng quang kinh chủ trị các chứng sốt lạnh, nghẹt mũi, đau đầu, cứng cổ, đau thắt lưng, và các huyệt tương ứng với từng tạng phủ, có tác dụng lý khí điều huyết. Do đó khi cạo gió dọc theo hệ thống kinh bàng quang, cũng là tác động một phần lên toàn hệ thống cơ thể, có tác dụng bổ chính khí, khu trục tà khí, nhằm tăng cường các hoạt động chức năng của cơ thể.
Ngoài phương pháp cạo gió, thầy thuốc y học cổ truyền còn có thể sử dụng kỹ thuật xoa bóp, day, lăn, miết, bấm …hoặc giác hơi,  lên vùng lưng trong những trường hợp bệnh lý tương tự cũng đạt hiệu quả như cạo gió.
Một số lưu ý khi cạo gió:
- Nên cạo gió trong phòng, tránh gió lùa
- Không nên sử dụng dầu xoa mà thành phần của nó có tinh dầu bạc hà (menthol), vì đây là tinh dầu có tính chất bốc hơi nhanh nên gây cảm giác mát lạnh. Khi xoa dầu, ban đầu cảm thấy ấm nóng nhưng một lúc sau thì cảm thấy mát và lạnh vùng được xoa dầu.
- Không dùng vật sắc cạnh, cứng để cạo gió, vì dễ gây tổn thương da, có nguy cơ nhiễm trùng và nhiễm một số bệnh lây lan qua đường máu. Tốt nhất nên sử dụng vật cạo là củ gừng được cắt bằng ở đầu, dùng đầu gừng cạo, khi tà đầu thì cắt ngang bỏ, tạo đầu mới, vừa an toàn vừa sử dụng được tinh dầu gừng có tính ấm, nóng.
- Không dùng lực tác động mạnh lên vùng cạo gió gây tổn thương da, dễ bị nhiễm khuẩn.
- Chủ yếu cạo hai bên đường dọc cột sống lưng. Không nhất thiết phải cạo đến đỏ bầm.
- Không nên cạo vùng cơ cổ.
- Sau khi cạo gió xong nên giữ ấm cơ thể, tốt nhất ăn thêm một bát cháo hành giải cảm.
- Cạo gió thực sự hữu hiệu trong trường hợp cảm mạo thời tiết, nhiễm lạnh , nhức mỏi tay chân do làm việc quá độ. Trong trường hợp suy nhược vì một bệnh lý nào đó như đau đầu chóng mặt vì cao huyết áp, viêm xoang,… thì nên đến cơ sở y tế  khám để có một chẩn đoán xác định và phương thức điều trị thích hợp.

Giải thích hiện tượng trúng gió tại sao cạo gió lại đỡ mệt


Giải thích hiện tượng trúng gió
tại sao cạo gió lại đỡ mệt


Cảm là trạng thái con người nhiễm các khí độc qua "da". Gió độc thấm vào cơ thể qua da tại các "lỗ chân lông". Các khí đó hầu hết là hợp chất của lưu huỳnh. Khi đánh bằng Ag có 2 tác dụng:

- Ag tác dụng với các khí của S tạo thành hợp chất Ag2S có màu đen. Ag và Hg là 2 kim loại phản ứng dễ dàng với S (do tạo thành hợp chất rất rất khó tan - đặc biệt là Hg). Khi lượng khí độc được loại bỏ (bằng cách dùng Ag) thì cơ thể phục hồi trở lại.

- Ag có tác dụng diệt khuẩn. Chẳng thế mà từ thời thượng cổ người ta đã biết dùng các đồ bằng Ag như bát, đũa ... để đựng thức ăn.

- Dùng lòng trắng trứng có tác dụng: Khi đánh cảm, các lỗ chân lông giãn ra (do cọ sát). Khi đó cơ thể dễ bị khí độc xâm nhập hơn. Do đó dùng lòng trắng trứng để bịt các lỗ chân lông lại, ngăn không cho khí tiếp tục vào cơ thể kim loại.


Phương Pháp Cạo Gió Hiệu Quả Nhất Bằng Đồng Bạc và Trứng Gà:

Bạn luộc chín 1 quả trứng gà sau đó bóc bỏ vỏ, rồi tách đôi lòng trắng, bỏ lòng đỏ ra để ăn sau khi đã đánh gió. Lấy 1 khăn mùi xoa ( Khăn mỏng) đặt 1 nửa lòng trắng trứng lên ( Nếu có thì cho thêm 1 ít tóc rối, 1 ít gừng tươi đã bóc vỏ và đập dập nát ) sau đó đặt đồng bạc lên trên ( Có thể dùng các đồ trang sức bằng bạc như dây bạc, vòng bạc ...thay cho đồng bạc cũng được) rồi úp nửa lòng trắng còn lại lên trên cùng rồi túm lại ở phía trên để cầm bằng tay, nhúng chìm tất cả trong nước vừa luộc trứng cho nóng đều lên , sau đó lấy ra, vắt chặt đuôi khăn cho hết nước và bắt đầu miết lần lượt từ trên đầu xuôi xuống gáy, lưng, bụng và tứ chi. Khi thấy giảm nóng thì lại ngâm tiếp như trên.

Đánh 1 lúc mở ra lấy đồng bạc xem nếu bạn bị cảm nắng sẽ thấy đồng bạc có ánh vàng đỏ, nếu cảm gió sẽ thấy màu đen xám, nếu bạn khỏe thì đồng bạc hầu như không đổi màu đâu. Bạn dùng ít tro bếp cọ nhẹ ( hoặc cọ vào gót chân), đồng bạc sẽ sáng trở lại và lại tiếp tục đánh gió như trên, Lưu ý là phải đánh gió theo thứ tự xong phần đầu mới xuống lưng, xong lưng rồi đến bụng, xong bụng đến 2 tay và cuối cùng là 2 chân, Luôn đánh 1 chiều từ trên xuôi xuống, không miết theo chiều ngược lên ! Đánh gió xong thì bạn sẽ ăn phần lòng đỏ trứng gà để giữ dạ.

Cạo gió là phương pháp chữa bệnh dân gian có từ lâu đời. Khi có bệnh người ta thấy thân thể mệt mỏi rã rời nếu được cạo gió sẽ thấy tinh thần sảng khoái và dễ chịu khác thường.

Mặc dù hiện nay y học hiện đại vô cùng phát triển nhưng cạo gió trị bệnh vẫn được thịnh hành vì rất an toàn, thao tác đơn giản và ưu điểm là có bệnh thì khỏi bệnh không có bệnh thì người thêm khoẻ. Đặc biệt là những nơi xa các trung tâm y tế, thiếu phương tiện chữa trị thì cạo gió trị bệnh là biện pháp vô cùng hữu hiệu.

Đông y gọi cảm gió là trúng gió. Phương pháp trị bệnh hiệu quả nhất là dựa vào sức đề kháng của hệ thống miễn dịch bản thân người bệnh, cho nên khi bị cảm phương pháp chính là nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn thức ăn có ít mỡ để rút ngắn thời gian bị bệnh. Cạo gió cũng là một phương pháp tốt để làm thuyên giảm bệnh và rút ngắn thời gian bị bệnh.

Y học cổ truyền Trung Quốc cho rằng cảm cúm là do sức đề kháng của cơ thể yếu không chịu được sự thay đổi của khí hậu, chướng khí xâm nhập vào cơ thể qua lỗ chân lông trên da và đường hô hấp gây nên ác hàn phát nhiệt, đau đầu, xổ mũi, toàn thân đau nhức mỏi mệt. Phương pháp trị bệnh chủ yếu là trừ chướng khí từ bên ngoài.

Cạo gió thường cạo các bộ phận chính trên cơ thể như: Ở lưng cạo hai bên xương sống từ vai xuống thắt lưng, dọc theo xương sống nửa thân trên; ở tay cạo dọc cánh tay mặt theo mặt trước và mặt trong theo lòng bàn tay. Thông qua cạo gió có thể giải hàn, giảm nhiệt, thuyên giảm bệnh. Nếu người bệnh có ho và ngứa cổ họng thì cạo thêm dọc xương mỏ ác ở ngực.


Kiến Thức Cơ Bản Để Cạo Gió:

1. Cách cạo

- Phương hướng: Theo hướng một chiều từ trên xuống dưới. - Dùng lực: ở cánh tay và ngực dùng lực nhẹ, ở lưng có thể hơi mạnh nhưng cũng nên căn cứ vào tình hình cụ thể, đặc biệt là sức chịu đựng của người bệnh mà quyết định dùng lực mạnh yếu. - Giới chất để bôi lên da khi cạo là dầu gió, hay các loại dầu vẫn thường bôi để trị cảm gió. - Sau khi cạo gió nên uống nhiều nước nóng, có thể đắp chăn để ra mồ hôi.
2. Dụng cụ dùng để cạo

Bất cứ vật gì có cạnh hình cung tròn và tương đối nhẫn nhụi như lược, thìa canh, miệng chén… Hiện nay sử dụng rộng rãi là cái cạo gió làm bằng sừng trâu vì bản thân sừng trâu là một vị thuốc Đông y có khả năng phát tán chướng khí và thông khí huyết.
3. Trình tự và phương pháp cạo
Khi cạo gió người bệnh để lộ da chỗ cần cạo. Người cạo bôi dầu lên mặt da người bệnh, tay cầm vật cạo để góc 90 hoặc 45 tiến hành cạo. Cổ, lưng, bụng, chân và tay cạo từ trên xuống dưới; ngực cạo từ trong ra ngoài, chú ý dùng lực đều và miết dài. Mỗi bộ phận cạo khoảng từ 3 đến 5 phút sẽ thấy nổi vết đỏ tím. Nhiều nhất cũng không nên cạo quá 10 phút, cũng không nên dùng lực cưỡng bức để tạo vết. Cạo xong chỗ này mới cạo sang chỗ khác, lần cạo sau cách lần cạo trước từ 3 đến 6 ngày để vết cạo lần trước kịp tan đi.
4. Các điều chú ý khi cạo
- Khi cạo tránh chỗ gió lạnh, mùa đông chú ý giữ ấm, mùa hè không được để quạt thổi vào người bệnh. - Sau khi nổi vết cạo trong khoảng 30 phút cấm tắm rửa bằng nước lạnh. - Cạo xong người bệnh nên uống một cốc nước nóng (có pha thêm chút muối thì càng tốt). - Phải khử trùng vật cạo trước và sau khi cạo. - Cấm cạo chỗ có vết lở loét, phần bụng người có thai, mà da có độ mẫn cảm quá cao, người có bệnh khó đông máu, có các bệnh về da.



关闭提示 关闭

确 认 取 消

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012


Theo thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), huy động vốn của TTCK qua 12 năm được 700.000 tỷ đồng. Với con số này, TTCK được xem là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh ngân hàng khó khăn.


Nhà đầu tư theo dõi diễn biến các chỉ số tại sàn giao dịch chứng khoán Rồng Việt (TP Hồ Chí Minh). Ảnh: Phạm Hậu - TTXVN
Tuy nhiên, trong 12 năm qua, TTCK Việt Nam đã không ít lần biến động mạnh. Năm 2007, khi TTCK ở thời kỳ hoàng kim, nhiều nhà đầu tư đã xem TTCK như một “canh bạc” lớn, nhà đầu tư đổ xô đầu tư chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận. Bước sang 2008, TTCK đã bắt đầu có dấu hiệu đi xuống. Thế nhưng, nhiều nhà đầu tư vẫn kỳ vọng sự đi xuống chỉ là nhất thời và TTCK sẽ sớm trở lại về thời hoàng kim đã có. Vì thế, số lượng nhà đầu tư và các CTCK vẫn tiếp tục tăng. Tuy nhiên, từ năm 2009 đến nay, TTCK đã “tuột dốc không phanh” bất chấp các chuyên gia nhận định thị trường sẽ sớm khởi sắc.

Nhìn nhận về nguyên nhân đi xuống của TTCK, các chuyên gia kinh tế cho rằng TTCK vẫn bị làm giá và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết phần lớn chưa minh bạch. Chưa kể, tình hình kinh tế khó khăn đã kéo các doanh nghiệp niêm yết rơi vào khó khăn, nợ nần chồng chất. Một hệ quả khác là sự tăng trưởng nóng của tín dụng do sự cho vay dễ dãi, cùng với sự suy yếu của kinh tế đã làm TTCK liên tục đỏ điểm. Mới đây, sau thông tin “bầu Kiên” (ông Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập Ngân hàng TMCP Á châu - ACB) và nguyên Tổng giám đốc ACB Lý Xuân Hải bị bắt đã làm rúng động giới đầu tư. Khi niềm tin bị sụp đổ thì thanh khoản của TTCK theo đó cũng “bốc hơi”. Chỉ tính từ ngày 20 - 23/8, VN - Index giảm 10%, rơi xuống 392,8 điểm; còn HNX - Index giảm 13,4% giá trị, rơi xuống 61,2 điểm. Cùng với sự giảm điểm, vốn hóa sàn HoSE mất 67,5 nghìn tỷ, xuống còn 604,8 nghìn tỷ đồng. Tương tự, vốn hóa sàn HNX giảm 12,6 nghìn tỷ xuống còn 82,5 nghìn tỷ đồng.

Rõ ràng, TTCK tuy hoạt động 12 năm nhưng vẫn là lĩnh vực kinh doanh mới, chứa đựng nhiều khó khăn và rủi ro. Thực tế, vài năm trở lại đây đã có nhiều CTCK thua lỗ. Theo đại diện của UBCKNN, nếu để rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt 6 tháng liền, kèm với lỗ lũy kế 50% vốn điều lệ, sẽ có nhiều CTCK bị đình chỉ hoạt động. Hiện có 40/105 CTCK khó khăn về thanh khoản không đảm bảo chỉ tiêu an toàn tài chính; có 71 CTCK bị thua lỗ (do giá cổ phiếu giảm thấp và đầu tư không hiệu quả). Chưa kể quý I/2012, đã có 4 CTCK xin rút nghiệp vụ môi giới, điều này đồng nghĩa những CTCK này sẽ xóa sổ hoạt động. Nhiều chuyên gia dự báo, trong tổng số các CTCK hiện nay, sẽ chỉ còn khoảng 1/3 tồn tại, khi mà các quy định quản lý CTCK ngày càng chặt chẽ.
Hy vọng một tương lai sáng

Dù vậy, theo Chủ tịch UBCKNN Vũ Bằng, dù đối mặt với những “vấp ngã” trên, TTCK Việt Nam vẫn có sự trưởng thành. Việc đảm bảo thị trường vận hành an toàn, ổn định ngay trong những thời điểm khó khăn nhất là điều mà không phải TTCK non trẻ nào cũng đạt được.

Theo thống kê của UBCKNN, sự trưởng thành của thị trường được thể hiện sinh động qua nhiều con số. So với cách đây 12 năm, quy mô thị trường hiện tăng trên 50 lần, vốn hóa năm đầu tiên dưới 1% GDP, nhưng cuối năm 2011 đạt gần 27%. Khối lượng giao dịch cũng tăng 30 - 40 lần so với năm đầu tiên giao dịch. Công ty niêm yết trong năm đầu tiên thị trường hoạt động chỉ hơn 10 doanh nghiệp, nay tăng lên gần 800 doanh nghiệp.

Năng lực huy động vốn thực sự là điểm đáng chú ý với gần 700.000 tỷ đồng huy động cho nền kinh tế qua 12 năm, đỉnh cao là năm 2007 đạt 127.000 tỷ đồng. Luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có thời điểm cao nhất lên đến 12 tỷ USD, nay khoảng 6,7 tỷ USD, góp phần cân bằng cán cân thanh toán, cũng như gia tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam trong con mắt nhà đầu tư quốc tế.

Mặt khác, các tổ chức kinh doanh chứng khoán đã có những bước phát triển về quy mô, mạng lưới công nghệ và trở thành một tổ chức trung gian phục vụ cho hoạt động tư vấn, cổ phần hóa kết nối cung cầu trên thị trường chứng khoán. Ngay cả các tổ chức thị trường như Sở, Trung tâm Lưu ký cũng ngày càng phát triển, công nghệ thông tin đã được cải thiện, nhiều dịch vụ, nghiệp vụ, sản phẩm mới cũng đã được triển khai đảm bảo cho hoạt động thị trường được thông suốt, không xảy ra đổ vỡ. Khung pháp lý cho thị trường cũng ngày càng được hoàn thiện và từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế. Về số lượng tài khoản, nhà đầu tư cũng ngày một gia tăng, khi mới có thị trường chứng khoán chỉ có khoảng 3.000 tài khoản, nhưng đến hiện nay đã có 1,2 triệu tài khoản. Lượng vốn huy động qua thị trường, đặc biệt là từ khối nhà đầu tư nước ngoài đến đạt khoảng 8 tỷ USD.

Mặt khác, trước những khó khăn của TTCK, UBCKNN đã trình Bộ Tài chính, Chính phủ ban hành chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020, đồng thời xây dựng tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đó, định hướng dài hạn thời gian tới là tập trung vào tái cấu trúc 4 trụ cột: hàng hóa, nhà đầu tư, công ty chứng khoán và các sở giao dịch chứng khoán. 
根据国家证券委员会所报告越南证券市场12年所筹集的资本大约7万亿越盾,成为越南目前在景气不良之经济的主要筹集资本的场面。越南证券市场面临了不少困难从而也获得了成长。确保市场在最困难时期仍然稳定、安全活动的任务不是每个年轻的市场都能做到。跟开始时期对比市场规模已增加50倍,2000年市价不到1%2011年为27%,交易数量也增加40倍,上市公司从2家增到800家。12年筹集资本总额为700万亿越盾 ,而顶点为2007年的127万越盾。FII最高的时期为120亿美元,现在为67亿美元以促进平衡国家收支,以及增加国际投资者眼中的吸引力。    另一方面,证券经营机构在规模和经营策略也经过不少改变发展成为投资者的积极咨询中介机构,连接市场上的供应和需求。管理机构在工艺技术上不断改进以符合市场的需求。法律框架不断完善。这样的表现已显示了越南证券市场也有一定的成长。
12年来,越南证券市场也经过不少的强烈变动。2007年是黄金时期,许多投资者将证券市场视为大赌场,陆续参与投资赚回利润。2008年,市场已经开始下降,可许多投资者还坚持下去,以为这只是暂时的表现,市场早晚就返回黄金时期。可是从2009年到现在,虽然很多专家都认为市场很快就恢复可实际上市场还是“打滑不刹车”的状态。
        关于导致市场下跌的原因,经济家都认为由于上市企业的财务报告大多部分还不够明显。经济景色不好导致上市企业陷入困难和债务也是重要的原因。另外,由于宽松的信贷政策加上经济减弱都使越南证券市场连续红色。最近,阮德坚-亚洲商业银行ACB的创造委员,前任副主席跟ABC的总经理-李春海被逮捕的信息使投资界心理不定。投资者对市场的信心崩溃导致市场的清算性的跟着下降。虽然越南证券市场已经活动12年可还属于新的业务领域充满了困难和风险。最近几年,不少证券公司大量损失。根据SSC的代表表示如果被陷入6个月的特殊监视加上累计亏损50%的注册资本,很多证券公司可能被停止活动。目前有40/105家证券公司在清款方面上不能确保金融安全规范;71家因股价下跌及无效的投资策略经营损失。2012年第一季已经有4家完全删除。根据目前的状况很多专家认为当管理部门对于证券公司的规定日益紧密,可能只有1/3家能存在下去。
        越南证券市场目前所存在的问题是什么?导致证券市场不能返回黄金时期的原因如何?从已经发展的市场对比越南可以学习到什么以日益完善自己的证券市场?这点一直以来都是管理部门寻找正确答案的重要问题

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Khí công dưỡng sinh: Tác dụng và điều cần tránh

Khí công dưỡng sinh: Tác dụng và điều cần tránh

Đại Đoàn Kết - 44 tháng trước 4275 lượt xem
Hô hấp (hít thở) là yếu tố quan trọng nhất của sự sống con người. Nếu ngừng hô hấp, sự sống sẽ không tồn tại. Quá trình hô hấp là sự trao đổi khí, cung cấp ôxi cho quá trình ôxy hóa thức ăn, tạo nguồn năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động sống của cơ thể. Dựa trên lý thuyết đó, lịch sử hàng ngàn năm Đông Y đã nghiên cứu, sáng chế nhiều phương thức, bài tập khí công dưỡng sinh (KCDS) có tác dụng khai thông kinh mạch, nâng cao sức khỏe, đặc biệt là trong chữa bệnh.
Điều khí - yếu tố căn bản nhất
Lịch sử phát triển KCDS từ xa xưa của Trung Quốc đã phát hiện, sau một ngày làm việc lao tâm mệt mỏi, việc áp dụng một số phương pháp hít thở đúng cách sẽ tạo hưng phấn cho cơ thể, hồi phục sức khỏe, tăng cường sinh lực, trí óc minh mẫn. Thông qua hít thở đúng cách kèm những động tác luyện tập bổ trợ điều khí, sự biến năng của dưỡng khí (oxygen) giúp sinh lực phục hồi, thải loại độc tố, cặn bã ra khỏi cơ thể, có tác dụng chữa bệnh khá tốt. Theo nghiên cứu, hơi thở của cơ thể khỏe mạnh (hơi thở tự nhiên) phải hội đủ bốn đặc tính “yên lặng, thanh thản, nhẹ nhàng, và điều hòa”.
Trong mọi phương thức dưỡng sinh, Đông Tây Y thường lấy việc chăm sóc hơi thở, điều hòa khí huyết làm chủ đạo. Yếu quyết KCDS luôn chú trọng đến điều hòa hơi thở, dùng ý vận khí, cùng với việc kiên trì, cơ thể người có thể trạng yếu, mang bệnh tật sẽ dần phục hồi, khỏe mạnh trở lại, tiêu trừ bệnh tật. Thông thường, nhịp độ thở trung bình của người khỏe mạnh khoảng 18 lần/phút. Các phương thức KCDS đều nhằm giảm nhịp độ hô hấp bằng cách thở nhẹ, đưa hơi thở sâu xuống đan điền, tạo sự thư thái, hồi phục sức khỏe rõ rệt.
Quan niệm Y học phương Đông cho rằng, cơ thể khi về già sẽ dần tiến tới quá trình lão hóa, chậm quy trình trao đổi chất, ứ trệ khí tại các kinh mạch gây bệnh tật. Việc tái tạo sức khỏe làm chậm quá trình lão hóa, quân bình âm dương, khai thông Nhâm đốc nhị mạch cho khí huyết luân chuyển khắp châu thân bằng cách kết hợp những liệu pháp dược phẩm (cây thuốc), châm cứu pháp, án ma pháp (kim châm huyệt đạo hoặc thuật xoa bóp, bấm kinh mạch, huyệt đạo), khí công (điều hòa hô hấp) và thể dục dưỡng sinh đả thông kinh mạch đã được áp dụng có hiệu quả vào đời sống từ hàng trăm năm qua. Dựa trên triết lý âm dương, ngũ hành, phép dưỡng sinh đưa con người sống hòa hợp với quy luật thiên nhiên, khai thác tối đa lợi thế của “Thiên khí” và “Địa khí”, tạo quân bình âm dương tính cho “Nhân khí” của con người. Sức đề kháng cơ thể từ đó mà được kiện toàn, làm chậm sự thoái hóa của các tế bào, tiêu trừ mọi mầm mống bệnh tật.

Phương thức tập KCDS và những điều cần tránh

Khí công gồm 2 phần là tĩnh luyện và động luyện (nhu khí công quyền). Phép tập khí công gồm có ba cách thở căn bản gồm thở sâu (hay còn gọi là thở đan điền), thở ngực (thở trung bình) và thở cao. Các tư thế áp dụng khi luyện có thể là đứng, ngồi hoặc nằm tùy điều kiện. Thông thường người tập hay sử dụng trung bình tấn, chân trước-chân sau (để đứng) hoặc Liên hoa bộ ngồi theo thế bán già, kiết già.
Kết hợp nơi tập thoáng mát, trong lành như công viên, rừng cây, bờ suối, bãi biển... tư thế đứng có tác dụng tốt nhất vì giúp hệ tuần hoàn dễ lưu thông khí huyết, nguồn “khí” vận chuyển đến các bộ phận cơ thể nhanh hơn. Thực tế cho thấy, trong phép trị bệnh, việc áp dụng khí công đều đặn, cùng với thói quen ẩm thực kết hợp sinh hoạt điều độ, kiêng cử đúng mức, người tập đã khỏi được những bệnh phổ biến của tuổi già mà không cần dùng thuốc bổ trợ như áp huyết cao-thấp, bệnh tim, bệnh về đường máu, bệnh suyễn, bệnh táo bón, bệnh tiêu hóa, bệnh nhức đầu, bệnh nhức mỏi khớp xương và bắp thịt...
Ngoài ra, việc tập luyện khí công còn giúp ích cho học viên gia tăng sức mạnh tinh thần như tập trung tư tưởng, tính tự chủ, tự kiểm soát nội tâm, tâm hồn thanh tịnh.
Thực tế cho thấy, do nôn nóng luyện tập, nhiều người tập sai phương pháp, điều “khí” sai quy trình sẽ dẫn đến tình trạng thái quá, dễ gây căng thẳng cho hệ thần kinh, hệ tim mạch bị loạn nhịp, sinh lý xáo trộn. Người xưa gọi đó là “tẩu hỏa nhập ma”, tức kinh mạch vận chuyển nghịch, ứ trệ khí huyết gây hôn mê, lạnh tay, mờ mắt. Bởi vậy, muốn đạt được thành quả trong lúc tập luyện khí công, học viên nên tuân hành nghiêm chỉnh theo một thời dụng biểu tập luyện đều đặn với những bài tập thích nghi, từng bước một, tuần tự tiến hành.

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012


1
QUY CHẾ CÔNG BỐ THÔNG TIN
CỦA SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2010/QĐ-SGDHCM ngày 13 tháng 12 năm 2010
của Tổng giám đốc SGDCK TP.HCM)
I. QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Đối tượng công bố thông tin
Đối tượng công bố thông tin trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành Phố Hồ
Chí Minh (SGDCK) bao gồm :
1.1 Tổ chức niêm yết;
1.2 Thành viên giao dịch;
1.3 Công ty quản lý quỹ đại chúng niêm yết;
1.4 Công ty đầu tư chứng khoán niêm yết;
1.5 Người có liên quan theo quy định tại khoản 34 Điều 6 Luật Chứng
khoán.
Điều 2. Yêu cầu thực hiện công bố thông tin
2.1 Đối tượng công bố thông tin phải chịu trách nhiệm về nội dung thông
tin công bố, đồng thời phải thực hiện công bố thông tin theo quy định tại các
điểm 2.1, 2.2, 2.3, 2.4 và 2.6 khoản 2 Mục I Thông tư 09/2010/TT-BTC.
2.2 Quy định về người được uỷ quyền công bố thông tin được thực hiện
theo quy định tại điểm 2.2 khoản 2 và khoản 3 Mục I Thông tư 09/2010/TTBTC
và chỉ được ủy quyền công bố thông tin cho 01 người. Việc ủy quyền công
bố thông tin đối với quỹ đại chúng niêm yết thực hiện theo mẫu
CBTT/SGDHCM-01. Tổ chức thực hiện ủy quyền công bố thông tin phải nộp
cho SGDCK sơ yếu lý lịch và danh sách người có liên quan đến người được ủy
quyền công bố thông tin theo mẫu CBTT/SGDHCM-02 theo quy định tại khoản
34 Điều 6 Luật Chứng khoán.
Trường hợp thay đổi người được uỷ quyền công bố thông tin, các đối tượng
công bố thông tin phải thông báo bằng văn bản theo mẫu CBTT/SGDHCM-03
gửi đến SGDCK, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) ít nhất năm (05)
ngày làm việc trước khi có sự thay đổi
2.3 Trường hợp người có thẩm quyền ký tên và đóng dấu đối với nội dung
thông tin công bố không phải người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy
quyền công bố thông tin đã đăng ký với UBCKNN, SGDCK thì đối tượng công
bố thông tin phải gửi thông tin công bố kèm theo văn bản xác nhận của người
đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thông tin.
Điều 3. Phương tiện và hình thức công bố thông tin
2
3.1 Việc công bố thông tin của các đối tượng công bố thông tin phải thực
hiện theo qui định tại khoản 4, Mục I của Thông tư số 09/2010/TT-BTC.
Phương tiện và hình thức công bố thông tin cho SGDCK của đối tượng công bố
thông tin được thực hiện cụ thể như sau:
a. Thông tin công bố được thể hiện dưới hình thức văn bản và dữ liệu điện
tử có xác nhận của người có thẩm quyền thực hiện công bố thông tin.
b. Các thông tin dưới hình thức văn bản: 01 bản chính có xác nhận của
người có thẩm quyền công bố thông tin. Các đối tượng công bố thông tin sẽ
chuyển văn bản đến SGDCK qua đường fax, đường bưu điện hoặc nộp trực tiếp.
Trường hợp gửi qua fax thì bản chính phải gửi qua đường bưu điện trong vòng
24 giờ kể từ thời gian chuyển fax.
c. Các thông tin dưới hình thức dữ liệu điện tử được chuyển đến SGDCK
thông qua địa chỉ e-mail hoặc phương tiện khác do SGDCK qui định. Các thông
tin bằng dữ liệu điện tử phải sử dụng bảng mã Unicode. Dung lượng tối đa của
dữ liệu điện tử là 5MB, trường hợp dung lượng của dữ liệu điện tử lớn hơn mức
tối đa, đối tượng công bố thông tin (trừ cá nhân quy định tại khoản 1.5 Điều 1
Quy chế này) phải gửi thông tin cho SGDCK bằng các phương tiện lưu trữ khác
(Flashdisk, CD,...) và cung cấp đường dẫn đến địa chỉ trang thông tin điện tử có
đăng tải toàn bộ nội dung thông tin công bố.
d. Các đối tượng công bố thông tin nêu tại khoản 1.1, 1.2, 1.3, 1.4 Điều 1
Quy chế này phải đăng ký bằng văn bản với SGDCK số fax, địa chỉ e-mail dùng
để chuyển văn bản hoặc/và dữ liệu điện tử cho SGDCK. Trong trường hợp thay
đổi số fax, địa chỉ e-mail, các đối tượng công bố thông tin trên phải gửi thông
báo bằng văn bản ít nhất 5 ngày trước ngày dự kiến thay đổi cho SGDCK.
e. Ngày nộp báo cáo công bố thông tin là ngày gửi tính theo dấu của bưu
điện, ngày gửi fax, gửi email hoặc ngày ghi trên giấy biên nhận nộp báo cáo
công bố thông tin.
f. Thời điểm nhận thông tin được xác định theo thời gian vào Sổ công văn
đến tại SGDCK.
g. Các đối tượng công bố thông tin (trừ cá nhân quy định tại khoản 1.5
Điều 1 Quy chế này) phải lập và thực hiện công bố thông tin đầy đủ trên trang
thông tin điện tử của chính mình đồng thời báo cáo cho UBCKNN, SGDCK.
3.2 Tổ chức niêm yết, công ty quản lý quỹ đại chúng niêm yết, công ty đầu
tư chứng khoán đại chúng có cổ phiếu niêm yết thực hiện công bố thông tin đến
SGDCK qua phần mềm công bố thông tin theo nguyên tắc:
a. Chịu trách nhiệm bảo mật thông tin đăng ký bao gồm tên truy cập và
mật khẩu để công bố thông tin đến SGDCK
b. Thực hiện công bố thông tin theo đúng hướng dẫn của SGDCK.
3
Điều 4. Tạm hoãn công bố thông tin
Trường hợp tạm hoãn công bố thông tin được thực hiện theo quy định tại
khoản 5 Mục I Thông tư 09/2010/TT-BTC. Những lý do bất khả kháng bao
gồm: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh và những trường hợp khác được UBCKNN
và SGDCK chấp thuận cho tạm hoãn công bố thông tin.
Điều 5. Bảo quản lưu giữ thông tin
Các đối tượng công bố thông tin thực hiện việc bảo quản, lưu giữ thông tin
theo quy định tại khoản 6 Mục I Thông tư 09/2010/TT-BTC.
II. CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC NIÊM YẾT
Điều 6. Công bố thông tin định kỳ, bất thường, theo yêu cầu
6.1 Tổ chức niêm yết thực hiện công bố thông tin định kỳ theo quy định tại
điểm 1.1, 1.2, 1.3 khoản 1 Mục IV của Thông tư 09/2010/TT-BTC.
Báo cáo tài chính năm, báo cáo tài chính bán niên soát xét phải được kiểm
toán, soát xét bởi tổ chức kiểm toán được UBCKNN chấp thuận và được ký bởi
kiểm toán viên được UBCKNN chấp thuận.
Tổ chức niêm yết phải lập và công bố Báo cáo thường niên theo Phụ lục số II
kèm theo Thông tư 09/2010/TT-BTC và công bố chậm nhất 20 ngày, kể từ ngày
kết thúc thời hạn hoàn thành Báo cáo tài chính năm.
Ngoài báo cáo tài chính bán niên soát xét, tổ chức niêm yết phải lập và công
bố thông tin về báo cáo tài chính quý 2 theo quy định tại điểm 1.2 khoản 1 Mục
IV Thông tư 09/2010/TT-BTC.
6.2 Tổ chức niêm yết thực hiện công bố thông tin bất thường theo quy định
tại khoản 2, Mục IV của Thông tư 09/2010/TT-BTC. Ngoài ra, tổ chức niêm yết
phải thực hiện công bố thông tin trong vòng 24 giờ kể từ khi xảy ra sự kiện:
a. Trường hợp có Nghị quyết của Đại hội cổ đông (ĐHCĐ) và/hoặc Hội
đồng quản trị (HĐQT) liên quan đến thực hiện tách, gộp cổ phiếu; hợp nhất, sáp
nhập, chia, tách doanh nghiệp.
b. Trường hợp giá cổ phiếu niêm yết tăng trần (hoặc giảm sàn) năm (05)
phiên liên tiếp trong khi chỉ số VN Index giảm (hoặc tăng) trong khoảng thời
gian đó hoặc giá cổ phiếu niêm yết tăng trần hoặc giảm sàn từ mười (10) phiên
liên tiếp trở lên.
6.3 Tổ chức niêm yết thực hiện công bố thông tin theo yêu cầu theo quy
định tại khoản 3, Mục IV của Thông tư 09/2010/TT-BTC.
6.4 Tổ chức niêm yết phải sử dụng phương tiện công bố thông tin do
SGDCK quy định để công bố đồng thời với việc công bố trên website của
công ty và phương tiện thông tin đại chúng.
4
Điều 7. Các trường hợp khác phải công bố thông tin
7.1 Thông tin về giao dịch của cổ đông nội bộ, người được ủy quyền công
bố thông tin và người có liên quan của các đối tượng này theo quy định tại
khoản 34 Điều 6 Luật Chứng khoán được công bố theo quy định tại khoản 4
Mục IV Thông tư 09/2010/TT-BTC. Trường hợp không thực hiện được giao
dịch hoặc không thực hiện hết khối lượng đăng ký, các đối tượng quy định tại
điểm 4.1 khoản 4 Mục IV Thông tư 09/2010/TT-BTC phải báo cáo lý do cho
SGDCK trong vòng 03 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn giao dịch dự kiến.
7.2 Thông tin về giao dịch của cổ đông lớn của tổ chức niêm yết và người
có liên quan theo quy định tại khoản 34 Điều 6 Luật Chứng khoán được thực
hiện như sau:
a. Tổ chức, cá nhân, nhóm người có liên quan nắm giữ từ năm phần trăm
(5%) trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức niêm yết phải báo cáo
sở hữu của cổ đông lớn theo quy định tại khoản 4.1, Mục II Thông tư
09/2010/TT-BTC.
b. Cổ đông lớn và người có liên quan khi có ý định thực hiện giao dịch phải
tuân thủ quy định tại khoản 4.2, khoản 4.3 Mục IV Thông tư 09/2010/TT-BTC
và công bố thông tin theo mẫu CBTT/SGDHCM-04, CBTT/SGDHCM-05.
Trường hợp không thực hiện được giao dịch hoặc không thực hiện hết khối
lượng đăng ký, cổ đông lớn và người có liên quan phải báo cáo lý do cho
SGDCK trong vòng 03 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn giao dịch dự kiến.
c. Trường hợp mỗi lần giao dịch mua/bán cổ phiếu trong tổng số lượng cổ
phiếu đã đăng ký kể cả trường hợp chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng
không thông qua hệ thống giao dịch tại SGDCK (cho, tặng, thừa kế, chuyển
nhượng hoặc nhận chuyển nhượng quyền mua cổ phiếu phát hành thêm...)
nhưng chưa hết hạn dự kiến giao dịch mà làm cho số lượng cổ phiếu sở hữu thay
đổi vượt quá một phần trăm (1%) số lượng cổ phiếu cùng loại đang lưu hành so
với lần báo cáo gần nhất thì phải thực hiện báo cáo theo quy định tại khoản 4.2
Mục II Thông tư 09/2010/TT-BTC.
d. Trong vòng hai mươi bốn (24) giờ sau khi hoàn tất giao dịch dẫn đến sự
thay đổi đầu tiên về số lượng cổ phiếu sở hữu làm cho tổ chức, cá nhân, nhóm
người có liên quan không còn là cổ đông lớn thì phải báo cáo UBCKNN,
SGDCK, tổ chức niêm yết theo phụ lục IV Thông tư 09/2010/TT-BTC.
e. Trường hợp cổ đông không còn là cổ đông lớn do tổ chức niêm yết phát
hành thêm cổ phiếu thì phải báo cáo UBCKNN, SGDCK, tổ chức niêm yết trong
thời hạn bảy (07) ngày kể từ ngày hoàn tất việc phát hành thêm cổ phiếu của tổ
chức niêm yết.
7.3 Thông tin liên quan đến ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền cho cổ
đông hiện hữu được công bố theo quy định tại khoản 5 Mục IV Thông tư
09/2010/TT-BTC. Ngoài ra, tổ chức niêm yết phải nộp cho SGDCK 01 bản tóm
5
tắt sổ cổ đông theo mẫu CBTT/SGDHCM- 06 Quy chế này và 01 bản dữ liệu
điện tử sổ cổ đông trong vòng 07 ngày sau khi hoàn tất việc chốt danh sách.
7.4 Thông tin liên quan đến quản trị công ty được công bố theo quy định tại
khoản 6 Mục IV Thông tư 09/2010/TT-BTC. Đồng thời, tổ chức niêm yết và
các cá nhân có liên quan phải tuân thủ các quy định hiện hành về quản trị công
ty.
7.5 Thông tin về giao dịch cổ phiếu quỹ được công bố theo quy định tại
khoản 5 Mục II Thông tư 09/2010/TT-BTC. Đồng thời, tổ chức niêm yết phải
tuân thủ các quy định hiện hành về giao dịch cổ phiếu quỹ.
7.6 Thông tin về giao dịch cổ phiếu của cổ đông sáng lập trong thời gian bị
hạn chế chuyển nhượng theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp
được công bố theo quy định tại khoản 6 Mục II Thông tư 09/2010/TT-BTC.
Việc chuyển nhượng cổ phiếu của cổ đông sáng lập được thực hiện tại Trung
tâm Lưu ký Chứng khoán.
7.7 Thông tin về giao dịch chào mua công khai được công bố theo quy định
tại khoản 7 Mục II Thông tư 09/2010/TT-BTC. Đồng thời, tổ chức, cá nhân có
liên quan đến chào mua công khai phải tuân thủ các quy định hiện hành về chào
mua công khai.
7.8 Thông tin về việc chào bán chứng khoán và tiến độ sử dụng vốn thu
được từ đợt chào bán chứng khoán ra công chúng được công bố theo quy định
tại khoản 8 Mục II Thông tư 09/2010/TT-BTC. Đối với trường hợp chào bán
chứng khoán riêng lẻ, ngoài việc công bố thông tin theo quy định tại tiết đ, điểm
2.1.1, khoản 2 Mục II của Thông tư số 09/2010/TT-BTC tổ chức niêm yết phải
công bố thông tin theo quy định tại Nghị định 01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010
về chào bán cổ phần riêng lẻ.
7.9 Thông tin về việc tổ chức niêm yết thực hiện chào bán trái phiếu ra
công chúng được công bố theo quy định tại mục III Thông tư 09/2010/TT-BTC.
Đối với trường hợp phát hành trái phiếu riêng lẻ, việc công bố thông tin được
thực hiện theo quy định hiện hành về phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
7.10 Tổ chức niêm yết phải gửi thông báo họp ĐHCĐ cho các cổ đông
chậm nhất 15 ngày làm việc trước ngày khai mạc ĐHCĐ. Thông tin về việc họp
ĐHCĐ bao gồm: mẫu chỉ định đại diện theo uỷ quyền dự họp, chương trình họp,
phiếu biểu quyết, các tài liệu thảo luận làm cơ sở thông qua quyết định và dự
thảo nghị quyết đối với từng vấn đề trong chương trình họp phải được công bố
đầy đủ trên trang thông tin điện tử của tổ chức niêm yết chậm nhất bảy (07)
ngày làm việctrước khi khai mạc họp đại hội cổ đông.
7.11 Trường hợp có sự thay đổi nhân sự chủ chốt của tổ chức niêm yết
(thành viên HĐQT, Ban kiểm soát, Ban Tổng giám đốc hoặc Ban Giám đốc, kế
toán trưởng, người được ủy quyền công bố thông tin), tổ chức niêm yết phải
công bố thông tin theo quy định tại điểm 2.1.1 khoản 2.1 Mục II Thông tư
09/2010/TT-BTC. Tổ chức niêm yết đồng thời gửi kèm cho SGDCK tài liệu liên
6
quan đến việc thay đổi nhân sự (nếu có), Sơ yếu lý lịch của nhân sự mới, danh
sách người có liên quan theo quy định tại khoản 34 Điều 6 Luật Chứng khoán và
các cam kết liên quan đến việc nắm giữ cổ phiếu (nếu có).
III. CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA THÀNH VIÊN GIAO DỊCH,
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT, CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ
NIÊM YẾT
Điều 8. Công bố thông tin định kỳ, bất thường, theo yêu cầu
8.1 Thành viên giao dịch, công ty quản lý quỹ thực hiện công bố thông tin
định kỳ theo quy định tại khoản 1 Mục V của Thông tư 09/2010/TT-BTC.
Hồ sơ công bố thông tin của thành viên giao dịch theo quy định tại điểm 1.1
khoản 1 Mục V của Thông tư 09/2010/TT-BTC bao gồm:
a. Công văn gửi SGDCK về việc công bố thông tin.
b. Bản chính và dữ liệu điện tử Báo cáo tài chính và Báo cáo thường niên.
c. Thông tin địa chỉ trang thông tin điện tử đăng tải toàn bộ Báo cáo tài
chính để nhà đầu tư tham khảo.
Thông tin quy định tại khoản 1.3 Mục V Thông tư 09/2010/TT-BTC được
công bố theo mẫu CBTT/SGDHCM-07 Quy chế này.
8.2 Thành viên giao dịch, công ty quản lý quỹ thực hiện công bố thông tin
bất thường theo quy định tại khoản 2 Mục V Thông tư 09/2010/TT-BTC.
Hồ sơ công bố thông tin của thành viên giao dịch theo quy định tại khoản 2
Mục V Thông tư 09/2010/TT-BTC bao gồm:
a. Công văn gửi SGDCK về việc công bố thông tin
b. Đối với những thay đổi theo quy định tại điểm 2.1.1, 2.1.2 và 2.1.5 khoản
2 Mục V Thông tư 09/2010/TT-BTC, thành viên giao dịch phải đính kèm
các tài liệu liên quan đến vụ việc trong Hồ sơ công bố thông tin.
c. Đối với những thay đổi cần có sự chấp thuận của UBCKNN, thành viên
giao dịch phải đính kèm văn bản chấp thuận của UBCKNN.
d. Đối với những thay đổi từ thành viên giao dịch bao gồm: điểm 2.1.6,
2.1.7 khoản 2 Mục V Thông tư 09/2010/TT-BTC và việc sửa đổi bổ sung
điều lệ công ty, tùy theo từng nội dung công bố thông tin và Điều lệ hoạt
động, thành viên giao dịch phải đính kèm các văn bản sau đây trong Hồ
sơ công bố thông tin:
􀂃 Biên bản họp của ĐHCĐ/HĐQT
􀂃 Nghị quyết của ĐHCĐ/HĐQT
7
􀂃 Quyết định của Chủ tịch HĐQT/Hội đồng thành viên
􀂃 Quyết định bổ nhiệm
􀂃 Các giấy tờ khác (nếu có)
SGDCK chỉ thực hiện công bố thông tin khi nhận được đầy đủ Hồ sơ
công bố thông tin từ thành viên giao dịch.
8.3 Thành viên giao dịch, công ty quản lý quỹ thực hiện công bố thông tin
theo yêu cầu theo quy định tại điểm 3.1, 3.2 khoản 3 Mục V Thông tư
09/2010/TT-BTC.
Điều 9. Trường hợp khác phải công bố thông tin
9.1 Thành viên giao dịch phải công bố thông tin theo quy định tại khoản 3.3
Mục V Thông tư 09/2010/TT-BTC.
9.2 Đối với thành viên giao dịch là công ty chứng khoán niêm yết trên
SGDCK, ngoài các nghĩa vụ công bố thông tin đã nêu tại Điều 8 và khoản 9.1
điều này, công ty còn phải thực hiện công bố thông tin theo quy định tại Mục II
Quy chế này.
9.3 Đối với công ty quản lý quỹ niêm yết trên SGDCK, ngoài các nghĩa
vụ công bố thông tin đối với tổ chức niêm yết theo quy định tại Mục II Quy chế
này, còn phải báo cáo cho SGDCK theo quy định hiện hành về chế độ báo cáo
và công bố thông tin đối với công ty quản lý quỹ.
IV. CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUỸ ĐẠI CHÚNG NIÊM YẾT
Điều 10. Công bố thông tin định kỳ, bất thường, theo yêu cầu
10.1 Công ty quản lý quỹ đại chúng niêm yết thực hiện công bố thông tin
định kỳ về quỹ đại chúng phải tuân thủ các quy định tại khoản 1, Mục VI của
Thông tư 09/2010/TT-BTC. Ngoài ra, công ty quản lý quỹ phải gửi cho SGDCK
các báo cáo tài chính định kỳ của quỹ đại chúng niêm yết (hàng tháng, quý,
năm) theo mẫu quy định hiện hành về Chế độ kế toán của Quỹ Đầu tư chứng
khoán.
10.2 Công ty quản lý quỹ đại chúng niêm yết thực hiện công bố thông tin
bất thường theo quy định tại khoản 2, Mục VI của Thông tư 09/2010/TT-BTC.
10.3 Công ty quản lý quỹ đại chúng niêm yết thực hiện công bố thông tin
theo yêu cầu quy định tại khoản 3, Mục VI của Thông tư 09/2010/TT-BTC.
Điều 11. Các trường hợp khác phải công bố thông tin
11.1 Thông tin liên quan đến ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền cho
nhà đầu tư hiện hữu được công bố theo quy định tại khoản 4 Mục VI Thông tư
09/2010/TT-BTC. Ngoài ra, công ty quản lý quỹ phải nộp cho SGDCK 01 bản
tóm tắt danh sách nhà đầu tư theo mẫu CBTT/SGDHCM-08 Quy chế này và 01
8
bản dữ liệu điện tử danh sách nhà đầu tư của quỹ đại chúng niêm yết trong vòng
07 ngày sau khi hoàn tất việc chốt danh sách.
11.2 Thông tin về giao dịch chứng chỉ quỹ hoặc quyền mua chứng chỉ quỹ
của các đối tượng có liên quan được công bố theo quy định tại khoản 5 Mục VI
Thông tư 09/2010/TT-BTC.
11.3 Trường hợp thay đổi Chủ tịch Ban đại diện quỹ, thành viên Ban đại
diện quỹ, người điều hành quỹ; thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát
(nếu có), Ban Tổng Giám đốc của công ty quản lý quỹ, nhân viên công bố thông
tin của quỹ đại chúng, các đối tượng này phải công bố thông tin theo quy định
tại khoản 2.1 Mục VI Thông tư 09/2010/TT-BTC đồng thời gửi kèm cho
SGDCK sơ yếu lý lịch của nhân sự mới, danh sách người có liên quan đến các
đối tượng nêu trên theo quy định tại khoản 34 điều 6 Luật Chứng khoán và các
cam kết liên quan đến việc nắm giữ chứng chỉ quỹ (nếu có).
V. CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT
Điều 12. Công ty đầu tư chứng khoán niêm yết tại SGDCK phải công bố
thông tin theo qui định tại Mục II và IV của Quy chế này.
VI. XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 13. Xử lý vi phạm về công bố thông tin
Việc xử lý vi phạm về công bố thông tin được thực hiện theo quy định tại
khoản 7 Mục I Thông tư 09/2010/TT-BTC.
Điều 14. Thẩm quyền xử lý vi phạm về công bố thông tin
SGDCK có quyền đưa ra các hình thức xử lý vi phạm phù hợp với chức năng
và quyền hạn của mình đối với các trường hợp vi phạm về công bố thông tin
được quy định tại Quy chế này.
Điều 15. Các hình thức xử lý vi phạm
15.1 Các hình thức xử lý vi phạm bao gồm:
a. Cảnh cáo trên toàn thị trường;
b. Đưa chứng khoán vào diện cảnh báo;
c. Đưa chứng khoán vào diện kiểm soát;
d. Tạm ngừng giao dịch;
e. Báo cáo vụ việc lên Thanh tra UBCKNN để xử phạt theo quy định.
15.2 Đối với thành viên giao dịch: việc xử lý vi phạm và công bố thông tin
về xử lý vi phạm trên phương tiện công bố thông tin của SGDCK được thực hiện
theo Quy chế Thành viên
9
15.2 Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà Tổng Giám đốc SGDCK sẽ
quyết định hình thức xử lý vi phạm.
15.3 Các hình thức xử lý vi phạm nêu tại khoản 15.1 Điều này sẽ được công
bố trên các phương tiện công bố thông tin của SGDCK.
VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 16. Điều khoản thi hành
16.1 Sở Giao dịch thực hiện giám sát việc tuân thủ quy chế này của các đối
tượng công bố thông tin và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
16.2 Việc sửa đổi bổ sung Quy chế này do Tổng Giám đốc Sở Giao dịch
quyết định sau khi được Hội đồng Quản trị Sở Giao dịch thông qua và có ý kiến
chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ./.

NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH DANH SÁCH CHỨNG KHOÁN KHÔNG
ĐƯỢC PHÉP GIAO DỊCH KÝ QUỸ
- Căn cứ Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán ban hành kèm theo
Quyết định số 637/QĐ-UBCK ngày 30/08/2011.
- Căn cứ công văn số 3240/UBCK-QLKD ngày 05/10/2011 của UBCKNN hướng
dẫn xác định danh sách chứng khoán không được phép giao dịch ký quỹ .
Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM sẽ thực hiện công bố danh sách chứng khoán
không được phép giao dịch ký quỹ theo nguyên tắc như sau:
I. Xác định danh sách chứng khoán không được phép thực hiện giao dịch ký quỹ
- Căn cứ Điều 10 Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán ban hành kèm
theo Quyết định số 637/QĐ-UBCK ngày 30/08/2011 của Chủ tịch Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước;
- Thời gian niêm yết của chứng khoán theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Quy chế
hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán được tính từ ngày giao dịch đầu tiên ở một
trong hai Sở giao dịch chứng khoán;
- Việc xem xét kết quả kinh doanh của tổ chức niêm yết phải căn cứ vào báo cáo tài
chính năm gần nhất đã kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên có soát xét của tổ
chức kiểm toán. Trường hợp tổ chức niêm yết là công ty mẹ, việc xem xét kết quả
kinh doanh căn cứ trên báo cáo tài chính hợp nhất. Kết quả kinh doanh lỗ của tổ chức
niêm yết được hiểu là lỗ lũy kế hoặc/và lỗ trong kỳ xem xét.
- Trường hợp tổ chức niêm yết là quỹ đầu tư đại chúng, việc xem xét giá trị tài sản ròng
(NAV) theo khoản 3 điều 10 Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán được
thực hiện định kỳ 3 tháng một lần.
- Trường hợp quá 10 ngày làm việc kể từ ngày đến hạn công bố thông tin mà công ty
niêm yết/công ty quản lý quỹ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng niêm yết
chưa công bố báo cáo tài chính/báo cáo thay đổi giá trị tài sản ròng hàng tháng, cổ
phiếu/chứng chỉ quỹ có liên quan sẽ bị đưa vào danh sách chứng khoán không được
phép giao dịch ký quỹ.
II. Cơ chế công bố danh sách chứng khoán không được phép giao dịch ký quỹ
1. Công bố định kỳ: chậm nhất vào ngày làm việc thứ 3 kể từ ngày kết thúc quý, Sở
giao dịch chứng khoán sẽ công bố danh sách chứng khoán không đủ điều kiện giao
dịch ký quỹ cập nhật đến thời điểm kết thúc quý.
2. Công bố bất thường (danh sách bổ sung những trường hợp bị đưa vào danh sách
không được phép giao dịch ký quỹ): trong vòng 3 ngày làm việc khi phát sinh các
trường hợp sau:
• Chứng khoán mới niêm yết chưa đủ thời gian 6 tháng theo quy định tại khoản 1
Điều 10 Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ;
• Chứng khoán bị đưa vào các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 10 Quy chế
hướng dẫn giao dịch ký quỹ;
• Chứng khoán của tổ chức niêm yết có báo cáo tài chính kiểm toán hoặc báo cáo tài
chính soát xét hoặc báo cáo thay đổi giá trị tài sản ròng thuộc trường hợp quy định
tại khoản 3 Điều 10 Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán;
• Chứng khoán của tổ chức niêm yết chưa thực hiện công bố báo cáo tài chính (bao
gồm báo cáo tài chính kiểm toán hoặc báo cáo tài chính soát xét bán niên đối với
cổ phiếu) hoặc báo cáo thay đổi giá trị tài sản ròng hàng tháng (đối với chứng chỉ
quỹ) sau 10 ngày làm việc kể từ ngày đến hạn công bố thông tin.
3. Công ty chứng khoán có nghĩa vụ công bố danh sách chứng khoán mà mình thực
hiện giao dịch ký quỹ trên website của mình, các địa điểm kinh doanh và báo cáo
Sở giao dịch chứng khoán trong thời hạn 10 ngày giao dịch kể từ ngày Sở giao
dịch chứng khoán công bố danh sách chứng khoán không được phép giao dịch ký
quỹ.
BỘ TÀI CHÍNH
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------------------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------
          Số: 168/QĐ-SGDHCM     
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 12 năm 2007 


QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Quy chế niêm yết chứng khoán

Quy trình đăng ký niêm yết

tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
------------------------------------------

TỔNG GIÁM ĐỐC SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 được Quốc hội Khóa XI kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006;
Căn cứ Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán;
Căn cứ Quyết định số 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chuyển Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Quyết định số 2644/QĐ-BTC ngày 6/08/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh;
Theo đề nghị của Giám đốc Phòng Quản lý và Thẩm định niêm yết

QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế niêm yết chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Giám đốc phòng Hành chính tổng hợp, Giám đốc Phòng Quản lý và Thẩm định Niêm yết, Giám đốc các phòng, ban thuộc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Nơi nhận:
-   Như điều 3
-   UBCKNN (để báo cáo)
-   Các CTCK
-   Các Tổ chức niêm yết
-   Các Công ty quản lý quỹ
-   TTLKCK
-   Lưu P.HCTH, P.QL&TĐNY

 
TỔNG GIÁM ĐỐC




Trần Đắc Sinh (đã ký)
BỘ TÀI CHÍNH
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------



QUY CHẾ NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN
TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 168/QĐ-SGDHCM  ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh)

Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
       Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
       Quy chế này hướng dẫn quy trình đăng ký niêm yết chứng khoán và quản lý, giám sát các chứng khoán niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là S Giao dịch) nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của thị trường và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
       Điều 2. Đối tượng điều chỉnh
1.           Tổ chức đăng ký niêm yết hoặc tổ chức niêm yết tại Sở Giao dịch;
2.           Công ty quản lý quỹ quản lý các quỹ đại chúng đăng ký niêm yết hoặc niêm yết tại Sở Giao dịch.
       Điều 3. Nguyên tắc quản lý
       Việc quản lý, giám sát các chứng khoán niêm yết/ tổ chức đăng ký niêm yết/tổ chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ đại chúng niêm yết tại Sở Giao dịch được thực hiện theo các quy định hiện hành về chứng khoán và thị trường chứng khoán và các quy định do Sở giao dịch ban hành.
       Điều 4. Giải thích thuật ngữ
1.           Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở Giao dịch.
2.           Chứng khoán niêm yết là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán và các loại chứng khoán khác được chấp thuận niêm yết tại Sở Giao dịch.
3.           Tổ chức đăng ký niêm yết là tổ chức phát hành/ công ty quản lý quỹ thực hiện đăng ký niêm yết chứng khoán tại Sở Giao dịch.
4.           Tổ chức niêm yết là tổ chức có chứng khoán niêm yết tại Sở Giao dịch.
5.           Niêm yết lần đầu là việc lần đầu tiên một loại chứng khoán đăng ký niêm yết tại Sở Giao dịch.
6.           Niêm yết bổ sung là việc đăng ký niêm yết cho số lượng chứng khoán phát hành thêm của loại chứng khoán đã được niêm yết tại Sở Giao dịch.
7.           Tách cổ phiếu là việc chia nhỏ một cổ phiếu thành nhiều cổ phiếu với mệnh giá giảm xuống theo tỷ lệ tương ứng;
8.           Gộp cổ phiếu là việc gom nhiều cổ phiếu thành một cổ phiếu với mệnh giá tăng lên theo tỷ lệ tương ứng.

Chương II
NIÊM YẾT LẦN ĐẦU

Điều 5. Điều kiện niêm yết
Điều kiện để được niêm yết chứng khoán trên Sở Giao dịch theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.
Điều 6. Hồ sơ đăng ký niêm yết
1.           Hồ sơ đăng ký niêm yết tại Sở Giao dịch thực hiện theo quy định tại Điều 10 - Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và các tài liệu trong danh mục hồ sơ đăng ký niêm yết tại Phụ lục 1 do Sở Giao dịch ban hành kèm theo Quy chế này.
2.           Bản cáo bạch trong hồ sơ đăng ký niêm yết phải có đầy đủ các nội dung quy định tại Mẫu Bản cáo bạch niêm yết ban hành kèm theo Quyết định số 13/2007/QĐ-BTC ngày 13/03/2007 của Bộ Tài chính và đáp ứng các yêu cầu sau:
2.1      Có đầy đủ chữ ký của Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Trưởng Ban Kiểm soát và Kế toán trưởng (Giám đốc tài chính) của tổ chức đăng ký niêm yết và người đại diện theo pháp luật của tổ chức tư vấn. Trường hợp ký thay phải có giấy ủy quyền hợp lệ;
2.2      Trường hợp Đại hội đồng cổ đông của tổ chức đăng ký niêm yết đã thông qua nghị quyết về việc phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn/ để trả cổ tức/ thưởng cổ phiếu; phát hành trái phiếu và/ hoặc trái phiếu chuyển đổi thì phải bổ sung thêm thông tin về những vấn đề này vào Điểm 16 Mục IV Mẫu Bản cáo bạch niêm yết.
3.           Báo cáo tài chính của tổ chức đăng ký niêm yết trong hai năm gần nhất phải đáp ứng các yêu cầu sau:
3.1      Tuân thủ chế độ kế toán hiện hành của Nhà nước;
3.2      Báo cáo tài chính bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Trường hợp tổ chức đăng ký niêm yết là công ty mẹ thì tổ chức đăng ký niêm yết phải nộp báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật về kế toán kèm theo báo cáo tài chính của công ty mẹ;
3.3      Báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính năm hợp nhất trong trường hợp tổ chức đăng ký niêm yết là công ty mẹ phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận. Ý kiến kiểm toán đối với các báo cáo tài chính phải thể hiện chấp nhận toàn bộ. Trường hợp ý kiến kiểm toán là chấp nhận có ngoại trừ thì khoản ngoại trừ phải là không trọng yếu và phải có tài liệu giải thích hợp lý về cơ sở cho việc ngoại trừ đó;
3.4      Trường hợp hồ sơ được nộp trước ngày 01 tháng Ba hàng năm, báo cáo tài chính năm của năm trước đó trong hồ sơ ban đầu có thể là báo cáo chưa có kiểm toán, nhưng phải có báo cáo tài chính được kiểm toán của hai năm trước liền kề;
3.5      Trường hợp ngày kết thúc kỳ kế toán của báo cáo tài chính gần nhất cách thời điểm gửi hồ sơ đăng ký niêm yết hợp lệ cho Sở Giao dịch quá 90 ngày, tổ chức đăng ký niêm yết phải lập báo cáo tài chính bổ sung đến tháng hoặc quý gần nhất;
3.6      Trường hợp có những biến động bất thường sau thời điểm kết thúc niên độ của báo cáo tài chính gần nhất, tổ chức đăng ký niêm yết cần lập báo cáo tài chính bổ sung đến tháng hoặc quý gần nhất;
3.7      Trường hợp tổ chức đăng ký niêm yết thực hiện phát hành thêm để tăng vốn sau thời điểm kết thúc niên độ của báo cáo tài chính kiểm toán gần nhất, tổ chức đăng ký niêm yết phải thực hiện kiểm toán vốn cho phần phát hành thêm đó;
3.8      Báo cáo tài chính nếu là bản sao, thì phải là bản sao có chứng thực của cơ quan công chứng hoặc của tổ chức kiểm toán (trường hợp báo cáo tài chính đã được kiểm toán) hoặc của tổ chức đăng ký niêm yết (trường hợp báo cáo tài chính chưa được kiểm toán);
4.           Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, hồ sơ đăng ký niêm yết phải kèm theo công văn chấp thuận đăng ký niêm yết của cơ quan quản lý chuyên ngành.
5.           Hồ sơ đăng ký niêm yết được lập thành 02 bộ trong đó có 01 bộ gốc và 01 bộ bản sao kèm theo 01 bản dữ liệu điện tử.
6.           Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ đăng ký niêm yết theo quy định, Sở Giao dịch sẽ xem xét thẩm định và có văn bản yêu cầu tổ chức đăng ký niêm yết sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký niêm yết. Thời hạn nhận hồ sơ được tính từ ngày Sở Giao dịch nhận được bộ hồ sơ đầy đủ, hợp lệ. Bản sửa đổi phải có chữ ký của những người đã ký trong hồ sơ đăng ký niêm yết gửi Sở Giao dịch hoặc người cùng chức danh với những người đó. Tổ chức đăng ký niêm yết phải thực hiện sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Sở Giao dịch.
7.           Sở Giao dịch ban hành quy định về hồ sơ đăng ký niêm yết đối với các loại chứng khoán khác theo quy định của Bộ Tài chính.
Điều 7. Quy trình đăng ký niêm yết
1.           Tổ chức đăng ký niêm yết có các chứng khoán đáp ứng các điều kiện niêm yết nộp hồ sơ đăng ký niêm yết cho Phòng Quản lý và Thẩm định Niêm yết thuộc Sở Giao dịch.
2.           Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Giao dịch sẽ chấp thuận hoặc từ chối đăng ký niêm yết. Trường hợp từ chối đăng ký niêm yết, Sở Giao dịch sẽ trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3.           Việc tiếp nhận, xem xét, thẩm định hồ sơ và cấp Quyết định chấp thuận đăng ký niêm yết chứng khoán tại Sở Giao dịch được thực hiện theo Quy trình tiếp nhận và thẩm định hồ sơ đăng ký niêm yết quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Quy chế này. Trường hợp cần xin thêm ý kiến của các cơ quan liên quan về chế độ, chính sách, Sở Giao dịch có công văn gửi các cơ quan liên quan.
Điều 8. Những vấn đề phát sinh trong quá trình thẩm định niêm yết
1.           Trong quá trình nộp hồ sơ đăng ký niêm yết, nếu có những sự kiện phát sinh ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức đăng ký niêm yết phải thực hiện chỉnh sửa bổ sung hồ sơ đăng ký niêm yết cho phù hợp. Trường hợp có sự thay đổi nhân sự chủ chốt, tổ chức đăng ký niêm yết phải công bố thông tin trong vòng 24 giờ kể từ khi có quyết định thay đổi và thực hiện lại cam kết nắm giữ với Sở Giao dịch.
2.           Trường hợp sau khi Sở Giao dịch có chấp thuận đăng ký niêm yết về mặt nguyên tắc nếu phát hiện tổ chức đăng ký niêm yết có vi phạm các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Sở Giao dịch sẽ thông báo bằng văn bản cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về vụ việc và chỉ chấp thuận đăng ký niêm yết chính thức sau khi có ý kiến phản hồi từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Điều 9. Hoàn tất thủ tục để chính thức giao dịch tại Sở Giao dịch
Trong vòng 90 ngày sau khi nhận được Quyết định chấp thuận đăng ký niêm yết của Sở Giao dịch, tổ chức đăng ký niêm yết có trách nhiệm hoàn tất các công việc và thủ tục sau:
1.           Công bố thông tin về việc niêm yết trên 03 kỳ liên tiếp của một tờ báo trung ương hoặc một tờ báo địa phương nơi tổ chức đăng ký niêm yết có trụ sở chính hoặc tờ Bản tin Thị trường Chứng khoán của Sở Giao dịch trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Quyết định chấp thuận đăng ký niêm yết;
2.           Nộp phí quản lý niêm yết cho Sở Giao dịch theo quy định hiện hành trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Quyết định chấp thuận đăng ký niêm yết;
3.   Đăng ký ngày chính thức giao dịch tại Sở Giao dịch và thực hiện các thủ tục chuẩn bị cho ngày giao dịch đầu tiên;
4. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ký Quyết định chấp thuận niêm yết, tổ chức niêm yết không thực hiện việc đưa chứng khoán vào giao dịch tại Sở Giao dịch thì Quyết định chấp thuận niêm yết sẽ hết hiệu lực.

Chương III
THAY ĐỔI ĐĂNG KÝ NIÊM YẾT

MỤC 1
NIÊM YẾT BỔ SUNG
Điều 10.  Niêm yết bổ sung
1.           Tổ chức niêm yết phải đăng ký niêm yết bổ sung trong các trường hợp phát hành thêm cổ phiếu để trả cổ tức hoặc thưởng cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu; chào bán quyền mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ; chào bán chứng khoán phát hành thêm cho đối tác chiến lược, cho cán bộ công nhân viên; chào bán thêm chứng khoán ra công chúng và các trường hợp khác khi tổ chức niêm yết tăng số lượng chứng khoán niêm yết trên Sở Giao dịch.
2.           Công ty quản lý quỹ phải đăng ký niêm yết bổ sung trong trường hợp phát hành thêm chứng chỉ quỹ cho nhà đầu tư hiện hữu thông qua phát hành quyền mua chứng chỉ quỹ đóng được chuyển nhượng.
3.           Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày hoàn tất đợt phát hành thêm, tổ chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ phải thực hiện thủ tục đăng ký niêm yết bổ sung với Sở Giao dịch. 
Điều 11. Quy trình đăng ký niêm yết bổ sung
1.           Tổ chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ làm thủ tục đăng ký niêm yết bổ sung theo quy định tại Điều 10 Chương này phải nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký niêm yết bổ sung theo quy định tại Phụ lục 1 về Danh mục hồ sơ đăng ký niêm yết, thay đổi niêm yết và hủy niêm yết chứng khoán ban hành kèm theo Quy chế này cho Phòng Quản lý và Thẩm định Niêm yết thuộc Sở Giao dịch.
2.           Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký niêm yết bổ sung, Sở Giao dịch có văn bản yêu cầu tổ chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ sửa đổi, bổ sung hồ sơ. Tổ chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ phải thực hiện sửa đổi, bổ sung theo đúng yêu cầu của Sở Giao dịch. Bản sửa đổi phải có chữ ký của những người đã ký trong hồ sơ đăng ký niêm yết bổ sung gửi Sở Giao dịch. Thời hạn nhận hồ sơ được tính từ ngày Sở Giao dịch nhận được bộ hồ sơ đầy đủ, hợp lệ.
3.           Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Giao dịch xem xét quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận đăng ký niêm yết bổ sung. Trường hợp không chấp thuận, Sở Giao dịch có văn bản giải thích rõ lý do.
4.           Trong vòng 05 ngày làm việc sau khi có Quyết định chấp thuận đăng ký niêm yết bổ sung của Sở Giao dịch, tổ chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ phải nộp phí quản lý niêm yết bổ sung cho Sở Giao dịch và hoàn tất các thủ tục để đưa chứng khoán niêm yết bổ sung vào giao dịch.

MỤC 2
THAY ĐỔI NIÊM YẾT DO TÁCH - GỘP CỔ PHIẾU
Điều 12. Trình tự, thủ tục tách/ gộp cổ phiếu
1.           Trong vòng 24 giờ kể từ khi có quyết định của Đại hội đồng cổ đông về việc tách/ gộp cổ phiếu, tổ chức niêm yết phải thực hiện công bố thông tin và báo cáo cho Sở Giao dịch.
2.           Chậm nhất 10 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng cho việc tách/ gộp cổ phiếu, tổ chức niêm yết phải báo cáo Sở Giao dịch và tiến hành công bố thông tin về tiến trình thực hiện tách/ gộp cổ phiếu trên 03 kỳ liên tiếp của một tờ báo trung ương hoặc một tờ báo địa phương nơi tổ chức niêm yết có trụ sở chính hoặc tờ Bản tin Thị trường Chứng khoán của Sở Giao dịch.
3.           02 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng nêu tại Khoản 2 Điều này, Sở Giao dịch tạm ngừng giao dịch đối với cổ phiếu thực hiện tách/ gộp.
4.           Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày đăng ký cuối cùng, tổ chức niêm yết có trách nhiệm hoàn tất việc tách/ gộp cổ phiếu.
Điều 13. Quy trình đăng ký thay đổi niêm yết sau khi thực hiện tách/ gộp cổ phiếu
1.     Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày hoàn tất việc tách/ gộp cổ phiếu, tổ chức niêm yết phải nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký thay đổi niêm yết theo quy định tại Phụ lục 1 về Danh mục hồ sơ đăng ký niêm yết, thay đổi niêm yết và hủy niêm yết chứng khoán ban hành kèm theo Quy chế này cho Phòng Quản lý và Thẩm định Niêm yết thuộc Sở Giao dịch.
2.     Trong vòng 03 ngày việc kể từ khi Sở Giao dịch nhận được bộ hồ sơ đăng ký thay đổi niêm yết đầy đủ hợp lệ, Sở Giao dịch chấp thuận hoặc không chấp thuận thay đổi niêm yết cho cổ phiếu thực hiện tách/ gộp. Trường hợp không chấp thuận, Sở Giao dịch giải thích và nêu rõ lý do bằng văn bản. Trường hợp chấp thuận, Sở Giao dịch sẽ thông báo ngày cổ phiếu đã thực hiện tách/ gộp được phép giao dịch trở lại.


MỤC 3
THAY ĐỔI NIÊM YẾT DO TÁCH – SÁP NHẬP TỔ CHỨC NIÊM YẾT
       Điều 14. Trường hợp tách/ sáp nhập tổ chức niêm yết dẫn đến thay đổi niêm yết
1.    Tổ chức niêm yết thực hiện tách/ sáp nhập doanh nghiệp nhưng không thay đổi pháp nhân niêm yết bao gồm các trường hợp sau:
1.1      Tổ chức niêm yết (công ty bị tách) thực hiện tách doanh nghiệp theo quy định tại Điều 151 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 để thành lập một hoặc một số doanh nghiệp cùng loại (công ty được tách) nhưng không chấm dứt sự tồn tại của tổ chức niêm yết;
1.2      Tổ chức niêm yết (công ty nhận sáp nhập) tiến hành sáp nhập với một hoặc một số tổ chức niêm yết khác hoặc chưa niêm yết (công ty bị sáp nhập) thành tổ chức niêm yết sáp nhập theo quy định tại Điều 153 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11.
2.   Trong vòng 24 giờ kể từ khi có quyết định của Đại hội đồng cổ đông về việc tách/ sáp nhập, tổ chức niêm yết phải thực hiện công bố thông tin và báo cáo cho Sở Giao dịch.
3.    Tổ chức niêm yết thực hiện tách, sáp nhập theo quy định tại Khoản 1 Điều này muốn thay đổi đăng ký niêm yết phải đáp ứng được các điều kiện niêm yết nêu tại Điều 8 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán. Trường hợp không đáp ứng được điều kiện niêm yết thì phải huỷ niêm yết. Trường hợp muốn hủy niêm yết tự nguyện phải tiến hành các thủ tục hủy niêm yết tự nguyện quy định tại Điều 16 Quy chế này.
Điều 15. Trình tự, thủ tục thực hiện đăng ký thay đổi niêm yết khi thực hiện tách/ sáp nhập tổ chức niêm yết
1.           Tách tổ chức niêm yết
1.1      Chậm nhất 10 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng cho việc tách doanh nghiệp, tổ chức niêm yết thực hiện tách doanh nghiệp phải báo cáo Sở Giao dịch và tiến hành công bố thông tin về lịch trình thực hiện tách doanh nghiệp;
1.2      Trường hợp cổ đông phản đối việc tách tổ chức niêm yết có yêu cầu mua lại cổ phiếu, tổ chức niêm yết phải hoàn tất việc mua lại cổ phiếu theo yêu cầu của cổ đông tối thiểu 05 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng. Việc mua lại phải tuân thủ các quy định hiện hành;
1.3      02 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng, Sở Giao dịch tạm ngừng giao dịch cổ phiếu của tổ chức niêm yết thực hiện tách doanh nghiệp;
1.4      Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức niêm yết bị tách hoàn tất việc đăng ký kinh doanh, tổ chức niêm yết bị tách phải tiến hành nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký thay đổi niêm yết theo quy định tại Phụ lục 1 về Danh mục hồ sơ đăng ký niêm yết, thay đổi niêm yết và hủy niêm yết chứng khoán ban hành kèm theo Quy chế này cho Phòng Quản lý và Thẩm định Niêm yết thuộc Sở Giao dịch;
1.5      Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Sở Giao dịch chấp thuận/ không chấp thuận đăng ký thay đổi niêm yết đối với tổ chức niêm yết. Trường hợp không chấp thuận, Sở Giao dịch phải có văn bản giải thích rõ lý do. Trường hợp chấp thuận, Sở Giao dịch sẽ thông báo ngày cổ phiếu được phép giao dịch trở lại.   
2.           Tổ chức niêm yết nhận sáp nhập với một hoặc một số doanh nghiệp khác
2.1      Chậm nhất 10 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng cho việc sáp nhập doanh nghiệp, các tổ chức niêm yết tham gia vào việc sáp nhập phải báo cáo Sở Giao dịch và tiến hành công bố thông tin về lịch trình thực hiện sáp nhập ;
2.2      Trường hợp cổ đông của tổ chức niêm yết tham gia sáp nhập phản đối việc sáp nhập có yêu cầu mua lại cổ phiếu, tổ chức niêm yết phải hoàn tất việc mua lại cổ phiếu theo yêu cầu của cổ đông tối thiểu 05 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng. Việc mua lại phải tuân thủ các quy định hiện hành;
2.3      02 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng, Sở Giao dịch sẽ tạm ngừng giao dịch đối với cổ phiếu của các tổ chức niêm yết bị sáp nhập;
2.4      Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày hoàn tất đợt phát hành thêm cổ phiếu để sáp nhập, tổ chức niêm yết nhận sáp nhập phải tiến hành nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký thay đổi niêm yết theo quy định tại Phụ lục 1 về Danh mục hồ sơ đăng ký niêm yết, thay đổi niêm yết và hủy niêm yết chứng khoán ban hành kèm theo Quy chế này cho Phòng Quản lý và Thẩm định Niêm yết thuộc Sở Giao dịch;
2.5      Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Sở Giao dịch chấp thuận, không chấp thuận đăng ký thay đổi niêm yết đối với tổ chức niêm yết nhận sáp nhập. Trường hợp không chấp thuận, Sở Giao dịch phải có văn bản giải thích rõ lý do. Trường hợp chấp thuận, Sở Giao dịch Chứng khoán sẽ có Quyết định niêm yết bổ sung đối với cổ phiếu phát hành thêm để sáp nhập đồng thời thông báo ngày chính thức giao dịch của lượng cổ phiếu mới này và huỷ niêm yết đối với các cổ phiếu của các tổ chức niêm yết bị sáp nhập.
      
Chương IV
HUỶ NIÊM YẾT

Điều 16. Hủy niêm yết tự nguyện
1.   Tổ chức niêm yết nộp đơn xin hủy bỏ niêm yết theo quy định tại Điểm k, Khoản 1, Điều 14 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông với tỷ lệ ít nhất 65% số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp (hoặc 75% trường hợp lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản) đối với hủy bỏ niêm yết cổ phiếu; của Hội đồng Quản trị (trường hợp công ty cổ phần) hoặc Hội đồng thành viên (trường hợp công ty TNHH) hoặc chủ sở hữu vốn (trường hợp công ty TNHH 1 thành viên) hoặc của cấp có thẩm quyền (trường hợp doanh nghiệp Nhà nước) đối với hủy bỏ niêm yết trái phiếu; của Đại hội đồng nhà đầu tư đối với huỷ bỏ niêm yết của chứng chỉ quỹ. Tổ chức đăng ký hủy bỏ niêm yết phải hoàn thành các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hiện hành trước khi tiến hành xin hủy bỏ niêm yết
2.    Tổ chức đăng ký hủy niêm yết tự nguyện theo Khoản 1 Điều này phải nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hủy niêm yết theo quy định tại Phụ lục 1 về Danh mục hồ sơ đăng ký niêm yết, thay đổi niêm yết và hủy niêm yết chứng khoán ban hành kèm theo Quy chế này cho Phòng Quản lý và Thẩm định Niêm yết thuộc Sở Giao dịch;
3.   Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Giao dịch xem xét chấp thuận/ không chấp thuận hủy niêm yết chứng khoán. Trường hợp không chấp thuận, Sở Giao dịch có văn bản giải thích rõ lý do.
Điều 17. Hủy niêm yết bắt buộc
1.    Các trường hợp hủy bỏ niêm yết bắt buộc theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán bao gồm:
1.1      Tổ chức niêm yết không còn đáp ứng được các điều kiện niêm yết quy định tại Điểm a, d Khoản 1; Điểm a, c Khoản 2; Điểm a, c Khoản 3 Điều 8  Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán trong thời hạn 01 năm, bao gồm:
a)           Vốn điều lệ đã góp của tổ chức có cổ phiếu, trái phiếu niêm yết giảm xuống dưới 80 tỷ đồng Việt Nam;
b)          Không có đủ 100 cổ đông nắm giữ tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết hoặc không có đủ 100 người sở hữu trái phiếu của cùng một đợt phát hành trong 12 tháng liên tục;
c)           Tài sản ròng của quỹ đầu tư giảm xuống dưới 50 tỷ đồng Việt Nam trong 12 tháng liên tục;
d)          Vốn điều lệ đã góp của công ty đầu tư chứng khoán giảm xuống dưới 50 tỷ đồng Việt Nam;
e)           Số người nắm giữ cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán hoặc chứng chỉ quỹ của quỹ đầu tư giảm xuống dưới 100 người trong 12 tháng liên tục.
1.2      Tổ chức niêm yết ngừng hoặc bị ngừng các hoạt động sản xuất kinh doanh chính từ 01 năm trở lên;
1.3      Tổ chức niêm yết bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành;
1.4      Cổ phiếu không có giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán trong vòng 12 tháng;
1.5      Tổ chức niêm yết cổ phiếu, trái phiếu có kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bị lỗ trong 03 năm liên tục và tổng số lỗ lũy kế vượt quá vốn chủ sở hữu trong báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất;
1.6      Tổ chức niêm yết chấm dứt sự tồn tại do sáp nhập, hợp nhất, chia, giải thể hoặc phá sản; quỹ đầu tư chấm dứt thời hạn hoạt động;
1.7      Trái phiếu đến thời gian đáo hạn hoặc trái phiếu được tổ chức phát hành mua lại toàn bộ trước khi đáo hạn;
1.8      Tổ chức kiểm toán có ý kiến không chấp nhận hoặc từ chối cho ý kiến đối với báo cáo tài chính năm gần nhất của tổ chức niêm yết;
1.9      Tổ chức niêm yết không tiến hành các thủ tục niêm yết tại Sở Giao dịch trong thời hạn tối đa là 90 ngày kể từ ngày được chấp thuận đăng ký niêm yết;
1.10 Trong các trường hợp mà Sở Giao dịch Chứng khoán xét thấy cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của người đầu tư và sau khi được sự chấp thuận của UBCKNN.
2.   Sở Giao dịch Chứng khoán sẽ thông báo cho tổ chức niêm yết khi phát hiện tổ chức niêm yết lâm vào tình trạng bị hủy niêm yết quy định tại Khoản 1, Điều này và yêu cầu tổ chức niêm yết báo cáo giải trình cụ thể.
3.    Trong quá trình xem xét việc hủy niêm yết hoặc quá trình khắc phục tình trạng bị hủy niêm yết, Sở Giao dịch có thể đưa chứng khoán niêm yết vào diện bị kiểm soát hoặc tạm thời ngừng giao dịch. Khi tổ chức niêm yết khắc phục được tình trạng bị huỷ niêm yết, tổ chức niêm yết phải gửi văn bản đề nghị cho phép giao dịch trở lại đối với cổ phiếu đang bị tạm ngừng giao dịch kèm các bằng chứng thể hiện việc khắc phục được tình trạng bị hủy niêm yết cho Sở Giao dịch.
4.    Trường hợp Sở Giao dịch xét thấy tổ chức niêm yết không thể khắc phục được tình trạng bị huỷ niêm yết, Phòng Quản lý và Thẩm định niêm yết của Sở Giao dịch sẽ trình Hội đồng thẩm định niêm yết đề nghị hủy niêm yết đối với chứng khoán lâm vào tình trạng bị hủy niêm yết đồng thời báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Hội đồng thẩm định niêm yết của Sở Giao dịch sẽ quyết định hủy niêm yết đối với chứng khoán niêm yết trong các trường hợp sau:
4.1      Tổ chức niêm yết không đưa ra phương án cam kết để khắc phục tình trạng bị hủy niêm yết;
4.2      Tổ chức niêm yết không giải thích hoặc bỏ qua việc chuẩn bị hoặc không tiến hành các hành động nhằm thực hiện kế hoạch khắc phục tình trạng hiện hành hoặc không có khả năng để khắc phục tình trạng bị hủy niêm yết;
4.3      Hội đồng xét thấy cần thiết phải hủy niêm yết đối với chứng khoán đó.
5.    Sở Giao dịch có thể cho phép chứng khoán bị hủy niêm yết được giao dịch trong một khoảng thời gian nhất định trước khi quyết định hủy niêm yết có hiệu lực.
6.    Trong vòng 24 giờ kể từ khi ký Quyết định hủy bỏ niêm yết đối với một chứng khoán, Sở Giao dịch thực hiện công bố thông tin về việc hủy bỏ niêm yết trên các phương tiện công bố thông tin của Sở Giao dịch. 
Điều 18. Đăng ký niêm yết lại
1.           Chứng khoán bị hủy bỏ niêm yết theo các quy định tại Điều 16, 17 Quy chế này có thể được đăng ký niêm yết lại ít nhất 12 tháng sau khi bị hủy bỏ niêm yết nếu đáp ứng các điều kiện niêm yết quy định tại Điều 8 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán.
2.           Hồ sơ và thủ tục đăng ký niêm yết lại đối với chứng khoán đã bị hủy niêm yết thực hiện theo quy định tại Chương II Quy chế này.

Chương V
KIỂM SOÁT VÀ TẠM NGỪNG GIAO DỊCH
ĐỐI VỚI CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT

Điều 19. Chứng khoán bị kiểm soát
1.   Chứng khoán niêm yết được đưa vào diện bị kiểm soát khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
1.1      Đối với cổ phiếu, trái phiếu
a)           Không còn đáp ứng điều kiện niêm yết quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 8 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, bao gồm:
i.       Có nợ quá hạn trên 1 năm hoặc tỷ lệ nợ quá hạn cao hơn 10% tổng vốn chủ sở hữu;
ii.     Không có đủ 100 cổ đông nắm giữ tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty hoặc không có đủ 100 người sở hữu trái phiếu của cùng một đợt phát hành theo danh sách cổ đông/ trái chủ gần nhất;
b)          Kết quả sản xuất kinh doanh phát sinh âm;
c)           Tổ chức niêm yết ngừng hoặc bị ngừng các hoạt động sản xuất kinh doanh chính;
d)          Tổ chức niêm yết không chấp hành đúng thời hạn nộp báo cáo định kỳ theo quy định tại Quy chế công bố thông tin trên Sở Giao dịch;
e)           Tổ chức niêm yết không chấp hành đúng thời hạn hoặc không thực hiện công bố thông tin bất thường theo quy định tại Quy chế công bố thông tin trên Sở Giao dịch;
f)            Tổ chức niêm yết không thực hiện công bố thông tin theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và/ hoặc Sở Giao dịch;
g)           Cổ phiếu không có giao dịch trong vòng 90 ngày;
h)          Trong trường hợp Sở Giao dịch xét thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
1.2      Đối với chứng chỉ quỹ, cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán
a)           Không còn đáp ứng được các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán bao gồm:
                               i.            Tổng giá trị tài sản ròng của quỹ đầu tư chứng khoán giảm xuống dưới 50 tỷ đồng Việt Nam tính theo giá trị ghi trên báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất;
                             ii.            Không có đủ 100 người sở hữu chứng chỉ quỹ hoặc 100 cổ đông nắm giữ cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán theo danh sách nhà đầu tư/ cổ đông gần nhất
b)          Công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán không chấp hành đúng thời hạn nộp báo cáo định kỳ theo Quy chế công bố thông tin trên Sở Giao dịch;
c)           Công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán không chấp hành đúng thời hạn hoặc không thực hiện công bố thông tin bất thường theo quy định tại Quy chế công bố thông tin trên Sở Giao dịch;
d)          Công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán không thực hiện công bố thông tin theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và/ hoặc Sở Giao dịch;
e)           Chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán không có giao dịch trong vòng 90 ngày;
f)            Trong trường hợp Sở Giao dịch xét thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
2.    Trường hợp tổ chức niêm yết khắc phục được các tình trạng nêu tại Khoản 1 Điều này, Sở Giao dịch sẽ dỡ bỏ ký hiệu kiểm soát đối với chứng khoán niêm yết.
Điều 20. Tạm ngừng giao dịch chứng khoán niêm yết
1.           Sở Giao dịch Chứng khoán xem xét tạm ngừng giao dịch chứng khoán khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
1.1      Giá, khối lượng giao dịch chứng khoán có biến động bất thường theo Quy chế Giám sát giao dịch của Sở Giao dịch;
1.2      Tổ chức niêm yết vi phạm nghiêm trọng Quy chế công bố thông tin trên Sở Giao dịch;
1.3      Hoạt động kinh doanh của tổ chức niêm yết bị thua lỗ trong hai (02) năm liên tiếp căn cứ theo báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán;
1.4      Thực hiện việc tách, gộp cổ phiếu; tách, sáp nhập doanh nghiệp;
1.5      Trong trường hợp cần thiết để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư hoặc đảm bảo ổn định của thị trường.
2.           Sở Giao dịch yêu cầu tổ chức niêm yết công bố thông tin và báo cáo giải trình cụ thể về lý do dẫn tới bị tạm ngừng giao dịch đối với các trường hợp quy định tại Điểm 1.1, 1.2, 1.3 và 1.5 Khoản 1 Điều này. Căn cứ trên giải trình của tổ chức niêm yết, Sở Giao dịch sẽ xem xét cho phép chứng khoán niêm yết được giao dịch trở lại sau khi đã khắc phục được các nguyên nhân dẫn đến việc bị tạm ngừng giao dịch.

Chương VI
NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC NIÊM YẾT
       Điều 21. Nghĩa vụ của tổ chức niêm yết
Tổ chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ quản lý quỹ đầu tư đại chúng được niêm yết trên Sở Giao dịch có các nghĩa vụ như sau:
1.   Duy trì các tiêu chuẩn niêm yết theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán
2.    Ban hành Điều lệ công ty theo đúng Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán ban hành tại Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ Tài chính.
3.    Tuân thủ các quy định về quản trị công ty tại Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán ban hành tại Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ Tài chính; các quy chế của Sở Giao dịch và các quy định hiện hành về chứng khoán và thị trường chứng khoán trong suốt thời gian chứng khoán được niêm yết trên Sở Giao dịch.
4.    Thực hiện các nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định tại Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/04/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn công bố thông tin và Quy chế về công bố thông tin của Sở Giao dịch.
5.   Đóng phí niêm yết theo đúng với các quy định hiện hành.


Chương VII
XỬ LÝ VI PHẠM
       Điều 22. Thẩm quyền xử lý vi phạm
       Sở Giao dịch có thẩm quyền đưa ra hình thức xử lý vi phạm phù hợp với chức năng và quyền hạn của Sở Giao dịch đối với các trường hợp vi phạm các quy định tại Quy chế này.
       Điều 23. Các hình thức xử lý vi phạm
1.           Các hình thức xử lý vi phạm bao gồm:
1.1      Nhắc nhở bằng văn bản;
1.2      Cảnh cáo trên toàn thị trường;
1.3      Báo cáo vụ việc lên Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để xử phạt theo quy định.
2.           Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà Tổng Giám đốc Sở Giao dịch sẽ quyết định hình thức xử lý vi phạm.
3.           Các hình thức xử lý vi phạm nêu tại điểm 1.1 và 1.2 khoản 1 Điều này sẽ được công bố thông tin trên các phương tiện công bố thông tin của Sở Giao dịch.

Chương VIII
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
             Điều 24. Điều khoản thi hành
1.           Sở Giao dịch thực hiện giám sát việc tuân thủ quy chế này của các tổ chức niêm yết.
2.           Sở Giao dịch chịu trách nhiệm xây dựng các quy chế làm việc và quy trình nghiệp vụ phù hợp với quy định của Quy chế này.
3.           Việc sửa đổi bổ sung Quy chế này do Tổng Giám đốc Sở Giao dịch quyết định sau khi có ý kiến chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.


TỔNG GIÁM ĐỐC




Trần Đắc Sinh (đã ký)
 BỘ TÀI CHÍNH
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM
Số: /QĐ-SGDHCM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
TP. Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 10 năm 2008
QUYẾT ĐỊNH
Về việc sửa đổi Điều 11 Quy chế Niêm yết chứng khoán tại Sở Giao dịch
Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
TỔNG GIÁM ĐỐC SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 Quốc hội nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam, Khoá XI, Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/06/2006;
Căn cứ Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán;
Căn cứ Quyết định số 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 của Thủ tướng
Chính phủ về chuyển Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Quyết định số 168/QĐ-SGDHCM ngày 07/12/2007 của Tổng Giám
đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM về việc ban hành Quy chế niêm yết
chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM;
Căn cứ công văn số 1937/UBCK-PTTT ngày 25/09/2008 của Uỷ Ban
Chứng khoán nhà nước về việc ban hành hướng dẫn tạm thời về việc đăng ký
niêm yết bổ sung tại SGDCK Tp.HCM;
Theo đề nghị của Phòng Quản lý & Thẩm định Niêm yết;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Thay thế nội dung quy định tại Điều 11 Quy chế Niêm yết chứng
khoán tại SGDCK Tp.HCM ban hành kèm theo Quyết định số 168/QĐ-
SGDHCM bằng nội dung sau:
Điều 11: Quy trình đăng ký niêm yết bổ sung
1. Tổ chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ làm thủ tục đăng ký niêm yết bổ
sung theo quy định tại Điều 10 Chương III Quy chế Niêm yết Chứng khoán tại
SGDCK Tp.HCM ban hành kèm theo Quyết định số 168/QĐ-SGDHCM ngày
07/12/2007 của Tổng Giám đốc SGDCK Tp.HCM (Quy chế Niêm yết) phải nộp
01 bộ hồ sơ đăng ký niêm yết bổ sung theo quy định tại Phụ lục 1 về Danh mục
hồ sơ đăng ký niêm yết, thay đổi niêm yết và hủy niêm yết chứng khoán ban
hành kèm theo Quy chế Niêm yết cho Phòng Quản lý và Thẩm định Niêm yết
thuộc Sở Giao dịch.
Trường hợp chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ;
chào bán chứng khoán phát hành thêm cho đối tác chiến lược, cho cán bộ công
nhân viên; chào bán thêm chứng khoán ra công chúng và các trường hợp khác
khi tổ chức niêm yết tăng số lượng chứng khoán niêm yết trên Sở Giao dịch, tổ
chức niêm yết/công ty quản lý quỹ phải nộp bổ sung cho Sở Giao dịch Báo cáo
kiểm toán vốn cho phần vốn tăng thêm nếu phần vốn tăng thêm này chưa được
xác nhận trong báo cáo tài chính được kiểm toán.
2. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được hồ sơ đăng ký niêm yết bổ sung, Sở Giao dịch có văn bản yêu cầu tổ
chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ sửa đổi, bổ sung hồ sơ. Tổ chức niêm yết/
công ty quản lý quỹ phải thực hiện sửa đổi, bổ sung theo đúng yêu cầu của Sở
Giao dịch. Bản sửa đổi phải có chữ ký của những người đã ký trong hồ sơ đăng
ký niêm yết bổ sung gửi Sở Giao dịch. Thời hạn nhận hồ sơ được tính từ ngày
Sở Giao dịch nhận được bộ hồ sơ đầy đủ, hợp lệ.
3. Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Giao
dịch xem xét chấp thuận hoặc không chấp thuận về mặt nguyên tắc đăng ký
niêm yết bổ sung. Trường hợp không chấp thuận, Sở Giao dịch có văn bản giải
thích rõ lý do.
4. Sau khi được chấp thuận nguyên tắc về việc niêm yết bổ sung, tổ chức
niêm yết/công ty quản lý quỹ nộp cho Sở Giao dịch:
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với vốn điều lệ mới
- Giấy chứng nhận đăng ký lưu ký chứng khoán cho số chứng khoán
phát hành thêm.
5. Trong vòng 02 ngày làm việc sau khi tổ chức niêm yết/công ty quản lý
quỹ hoàn chỉnh hồ sơ theo yêu cầu tại công văn chấp thuận về nguyên tắc, Sở
Giao dịch ra Quyết định chấp thuận đăng ký niêm yết bổ sung.
6. Trong vòng 05 ngày làm việc sau khi có Quyết định chấp thuận đăng ký
niêm yết bổ sung, tổ chức niêm yết/ công ty quản lý quỹ phải nộp phí quản lý
niêm yết bổ sung cho Sở Giao dịch và hoàn tất các thủ tục để đưa chứng khoán
niêm yết bổ sung vào giao dịch.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Giám đốc phòng Hành chính tổng hợp, Giám đốc Phòng Quản lý &
Thẩm định Niêm yết, Giám đốc các phòng, ban thuộc Sở Giao dịch Chứng
khoán Tp.HCM, các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định
này.
Nơi nhận:
- Như điều ;
- UBCKNN ( để báo cáo)
- Các CTCK
- Các TCNY
- Các Cty quản lý quỹ
- TTLKCK
- Lưu: QLNY, HCTH.
TỔNG GIÁM ĐỐC
Trần Đắc Sinh