Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012


Bấm Huyệt đúng cách

Phương pháp căn bản của bấm huyệt là: Ấn mạnh. Bạn có thể dùng ngón tay cái, ngón tay thường, lòng bàn tay hoặc khuỷu tay, tùy theo cách nào bạn thấy dễ và thoải mái nhất. Theo Tiến sĩ Gach, bạn ấn thế nào để tạo sự “chạm tốt”. Nói một cách khác làm thế nào để vừa có cảm giác đau vừa có cảm giác thích thú. Ðừng làm bạo quá ví huyệt bấm không gây ra sự đau đón, nhưng cũng đừng vì sợ mà bấm nhẹ quá sẽ không “đủ tốt.”
Phần lớn các huyệt bấm thường đi từng cặp – có nghĩa là một huyệt nằm ở bên phải thì huyệt kia năm cùng vị trí ở bên trái trên cơ thể. Nên bấm cả hai huyệt cùng một lúc nếu có thể được. Theo Tiến sĩ Gach, “Bấm cả hai huyệt tao sự quân bình cho cơ thể và làm gia tăng hiệu quả của sự bấm huyệt.
Ðể làm giảm sự căng thẳng của một khu vực hoặc làm giảm đau, trước tiên bấm nhẹ vào huyệt khoảng 30 giây. Gia tăng độ mạnh từ từ cho đến khi đủ mạnh và giữ khoảng hai đến ba phút. Sau đó nới lỏng từ từ và nhẹ nàng, và lơi ra từ từ trong khoảng 30 giây.
Khi bấm huyệt cho một khu vực nhóm bắp thịt lớn, như bắp thịt vai hay bắp chân, thường nên xoa bóp để làm ấm trước khi bấm huyệt. Dùng ngón tay cái, ngón tay thường, cườm tay để làm nóng điểm bấm cũng như vùng xunh quanh, giống như nhồi bột làm bánh. Nhưng nhớ luôn luôn phải nhẹ nhàng đề tránh bị tổn thương.
Gõ nhanh bằng đầu ngón tay làm kích thích những bắp thịt nằm sát dưới da. Ở những vùng nhạy cảm của cơ thể như mặt, bụng, và những vùng da liền sát xương như đỉnh đầu, nên làm một cách nhẹ nhàng.
Nếu sử dụng bấm huyệt để chữa các bịnh kinh niên hoặc gỉai sự căng thẳng của bắp thịt, cần phải bền bỉ và liên tục.  Những tình trạng gay gắt như đau lưng nặng hoặc đau vai (cứng bắp thịt cổ và vai) có thễ đòi hỏi phải bấm huyệt mỗi ngày hai ba lần. Ngay cả khi bạn đã hết đau, bấm huyệt mỗi tuần một lần cũng đề phòng được sự tái phát của bịnh.
Việc chà xát lên huyệt bấm mục đích chính là để làm tăng lượng máu lưu thông. Theo Tiến sĩ Gach, bạn có thể dùng cách nầy để làm ấm cơ thể nếu bạn cảm thấy lạnh. Kỹ thuật nầy đặc biết có ích cho người bị bịnh nằm liệt giường hoặc với những người lớn tuối có sự lưu thông của máu chậm chạp.

Phương Pháp Xác ĐỊnh huyệt Đạo

PDF.InEmail
Trên lâm sàng, việc châm đạt hiệu quả hay không, phụ thuộc khá nhiều vào việc xác định đúng vị trí huyệt, vì có nhiều khi, chẩn đoán đúng bệnh nhưng châm không đúng huyệt thì hiệu quả cũng không thể đạt được..


Vì vậy, cần phải nắm vững phương pháp lấy huyệt cho chính xác.
Bằng những kinh nghiệm tỉ mỉ và lâu dài, các nhà châm cứu xưa và nay đã tìm ra 1 số phương pháp giúp lấy huyệt như sau:
h.1- Phương Pháp Đo Lấy Huyệt
Phương pháp này có 2 cách:
a) Chia Đoạn Từng Phần Cơ Thể: phương pháp này gọi là 'Cốt Độ
Pháp' được ghi tỉ mỉ trong thiên 'Cốt Độ' (Linh Khu 14). theo đó:
+ Cơ thể con người được chia 38 phần ngang và dọc.
+ Chiều cao mọi người từ đầu đến chân là 75 thốn.
+ Thốn được phân bằng 1/75 chiều cao của mỗi người.
Cụ thể được phân chia như sau:
Mốc Vị Trí Của Cơ ThểĐơn Vị Đo Theo Linh Khu
+ Từ chân tóc trán đến chân tóc gáy12 thốn
+ Giữa 2 góc tóc trán ( 2 huyệt Đầu Duy)09 thốn
+ Giữa chân tóc trán đến chân tóc gáy12 thốn
+ Giữa 2 lông mày (Ấn Đường) đến chân tóc trán03 thốn
+ Chân tóc gáy đến huyệt Đại Chùy03 thốn
+ Giữa 2 huyệt Hoàn Cốt (giữa 2 mỏm trâm chũm)09 thốn
+ Từ bờ trên xương ức (huyệt Thiên Đột) đến góc 2 cung sườn (huyệt Trung Đình)09 thốn
+ Từ huyệt Trung Đình đến giữa rốn (huyệt Thần Khuyết)08 thốn
+ Giữa rốn đến bờ trên xương mu (huyệt Khúc Cốt)6, 5 thốn
+ Khoảng cách giữa 2 đầu vú08 thốn
+ Khoảng cách của 2 góc trên -trong xương bả vai06 thốn
+ Đỉnh của nách tới bờ xương cụt (huyệt Chương Môn)12 thốn
+ Từ huyệt Chương Môn đến huyệt Hoàn Khiêu (ngang mấu chuyển lớn)09 thốn
+ Từ huyệt Hoàn Khiêu đến đỉnh ngang bờ trên xương bánh chè (huyệt Hạc Đỉnh)19 thốn
+ Từ huyệt Đại Chùy (dưới mỏm gai đốt sống cổ 7) đến bờ dưới xương cùng30 thốn
+ Từ ngang đầu nếp nách trước đến ngang khớp khủy tay09 thốn
+ Từ ngang đầu nếp nách sau đến ngang khớp khủy09 thốn
+ Lằn chỉ cổ tay đến lằn chỉ khớp khủy trước12, 5 thốn
+ Ngang khớp khủy sau đến ngang khớp cổ tay12 thốn
+ Lằn chỉ cổ tay đến khớp bàn tay04 thốn
+ Từ huyệt Khúc Cốt đến ngang bờ trên lồi cầu trong xương đùi18 thốn
Từ huyệt Âm Lăng Tuyền (Ngang bờ dưới lồi củ trong xương chầy) đến đỉnh cao mắt cá chân trong13 thốn
+ Từ nếp nhượng chân (huyệt Ủy Trung) đến đỉnh mắt cá chân ngoài13 thốn
+ Từ bờ sau gót chân đến đầu ngón chân thứ 212 thốn
+ Từ ngang lồi cầu cao nhất của mắt cá chân trong đến mặt đất03 thốn
Cách phân chia theo tiết đoạn này tương đối dễ lấy và định huyệt 1 cách nhanh chóng, ngoài ra, còn tránh được sai lệch do sự cấu tao của thân thể người bệnh và thầy thuốc. Thí dụ người bệnh có tay chân quá dài, lấy theo thốn tay dễ bị sai lạc.
b) Cách Dùng Các Phần Ngón Tay Người Bệnh Để Đo
Cách đo này, người xưa gọi là 'Đồng Thân Thốn'.

+ Đồng Thân Thốn là gì? Bảo người bệnh co đầu ngón tay giữa vào cho chạm đầu ngón tay cái thành hình vòng tròn, chỗ tận cùng bề ngang của 2 lằn chỉ lóng giữa ngón tay trỏ được gọi là 1 đồng thân thốn, và thường được gọi tắt là 1 thốn.

+ Chiều ngang 4 ngón tay: bảo người bệnh duỗi bàn tay, ép sát 4 ngón tay (trừ ngón cái ra), bề ngang tính từ ngóng út đến ngón trỏ được tính là 3 thốn. Cách đo này thường dùng để lấy những huyệt có bề dài khoảng cách 3 thốn, thí dụ: huyệt Tam Âm Giao (cách đỉnh mắt cá chân trong 3 thốn - Để 4 ngang ngón tay lên đỉnh mắt cá chân trong, cuối của 4 ngang ngón tay này là huyệt), Huyền Chung (Đ.39)...
+ Chiều ngang của 3 ngang ngón tay (trừ ngón cái và ngón út) được coi là 2 thốn. Cách này dùng để lấy các huyệt có khoảng cách 2 thốn như huyệt Thủ Tam Lý (Đtr.10), Phục Lưu (Th.7), Nội Quan (Tb.6)...
+ Chiều ngang của 2 ngón tay giữa và trỏ tương đương 1, 5 thốn.
+ Chiều ngang qua gốc ngón tay cái (chỗ cao nhất khi gập ngón tay lại), tương đương 1 thốn, cũng gọi là 1 khoát.
Theo tạp chí ‘Thông Tin YHCTDT’ số 45/1984 về các loại thốn để đo đối với người Việt Nam cao trung bình 1m58 thì:
. Chiều dài trung bình thốn của đốt ngón tay giữa (thốn): 2, 11cm.
. Chiều dài trung bình thốn ngang 4 ngón tay: 2, 2cm.
. Chiều dài trung bình thốn ngang ngón cái (khoát): 2, 0cm.
Tỉ số chênh lệch giữa các loại thốn trên là vào khoảng 0, 1cm (0, 5%), và đối với thống kê học, thì tỉ số chênh lệch này không đáng kể và có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, trong khoảng cách ngắn thì còn ít sai số và chênh lệch nhưng càng nhiều thì tỉ số càng lớn và sai sót càng nhiều. Vì vậy, nên dùng cách đo này khi cần đo khoảng cách ngắn mà thôi.
c) Phương Pháp Dùng Các Mốc Giải Phẫu Hoặc Hình Thể Tự Nhiên
Có rất nhiều vị trí gắn liền với 1 mốc điểm của giải phẫu cơ thể, vì vậy, có thể dùng ngay những vị trí xác định đó làm chuẩn để định huyệt cho chính xác.
c.1) Dựa Vào Các Cấu Tạo Cố Định: Tai, mắt, mũi, miệng...
Thí dụ: Huyệt Tình Minh (Bq.1), ở sát khoé mắt trong.
Huyệt Thừa Tương (Nh.24) ở đáy chỗ lõm giữa môi dưới.
c.2) Dựa Vào Các Nếp Nhăn Của Da Làm Mốc
Thí dụ: Huyệt Đại Lăng (Tb.7) ở giữa nếp gấp cổ tay trong.
Huyệt Ủy Trung (Bq.40) ở giữa nếp gấp nhượng chân.
c.3) Dựa Vào Đặc Điểm Xương Làm Mốc
Thí dụ: Huyệt Dương Khê (Đtr.5) ở đầu mỏm trâm quay.
Huyệt Đại Chuỳ (Đc.14) ở dưới đầu mỏm gai đốt sống cổ thứ 7 ...
c.4) Dựa Vào Gân, Cơ Làm Chuẩn
Thí dụ: Huyệt Thừa Sơn (Bq.57) ở đỉnh góc tạo nên bởi 2 thân cơ tiếp giáp nhau và cùng bám vào gân gót chân.
Huyệt Tý Nhu (Đtr.14) ở ngang chỗ bám của cơ Delta vào xương cánh tay.
c.5) Lấy Huyệt Dựa Vào Tư Thế Hoạt Động Của 1 Bộ Phận
Phương pháp này đòi hỏi người bệnh phải thực hiện 1 số động tác nhất định như co tay lại, cúi đầu xuống...
Thí dụ: Co tay vào ngực để lấy huyệt Khúc Trì (Đtr.11).
Đứng thẳng người, tay áp vào đùi để lấy huyệt Phong Thị (Đ.31).
Cúi đầu xuống để lấy huyệt á Môn (Đc.15).
e) Lấy Huyệt Dựa Vào Cảm Giác Của Người Bệnh
e.1) Theo Cảm Giác Của Người Bệnh: vì huyệt là nơi dễ nhậy cảm và có phản ứng khi có bệnh, do đó, khi sờ ấn lên vùng huyệt, chỗ nào có biểu hiện đau nhiều nhất, đó thường là vị trí huyệt rõ nhất.
e.2) Theo Cảm Giác Của Thầy Thuốc: Khi cơ thể có bệnh, huyệt là nơi thông tin mạnh nhất, vì vậy, nó có thể thay đổi 1 số hình thái mà dùng mắt thường hoặc cảm giác ở tay có thể nhận biết được: chỗ huyệt đó mềm hơn, cứng hơn, nóng đỏ...
Phương pháp dựa trên cảm giác tương đối khá dễ nhưng còn nhiều hạn chế:
. Không thể áp dụng cho trẻ nhỏ vì chúng chưa đủ trình độ mô tả chính xác các cảm giác khi được hỏi.
. Thầy thuốc không có kinh nghiệm khó có thể nhận thấy những thay đổi đặc biệt nơi các huyệt trong cơ thể bệnh.
g) Dựa Vào Các Máy Móc Kỹ Thuật Hiện Đại
g.1) Dựa vào đặc tính thay đổi của từng huyệt, nhất là sự thay đổi điện trở của huyêt, các nhà nghiên cứu đã chế ra các máy đo điện trở để tìm ra vị trí của huyệt 1 cách tương đói nhanh chóng và chính xác.
Phương pháp này bảo đảm nhiều mặt thiếu sót của thầy thuốc nhưng không phải là mọi thầy thuốc đều có điều kiện sắm máy cũng như không phải máy nào cũng có độ chính xác cao.
g.2) Dựa vào đặc điểm thay đổi cảm giác của huyệt, nhất là các dấu hiệu đau khi ấn vào huyệt, người ta đã chế ra các loại que dò giúp dễ ấn tìm ra vị trí huyệt, nhất là khi tìm kiếm huyệt có vị trí đ\ừng kính nhỏ như huyệt ở vùng mặt (diện châm) hoặc ở loa tai (nhĩ châm)...
Trong thực tế lâm sàng, muốn chọn huyệt nhanh và chính xác, phải tuỳ theo vị trí huyệt mà chọn dùng 1 trong số những phương pháp nêu trên hoặc phối hợp cùng lúc 2 - 3 cách để hỗ trợ cho nhau.
Thí dụ: tìm huyệt Nội Quan (Tb.6):
. Có thể dùng 3 ngang ngón tay (2 thốn) đo từ giữa lằn chỉ cổ tay trong lên.
. Gấp bàn tay vào cẳng tay cho gân cơ gan tay lớn và cơ gan tay bé nổi rõ dưới mặt da để dễ lấy huyệt.
Như vậy, vừa phối hợp được cách lấy huyệt theo YHCT vừa theo cách lấy huyệt theo giải phẫu học của YHHĐ.


1 nhận xét:

  1. mình bị co tay 3 năm, nói ngọng 1 năm nay, chữa ở bệnh viện Kiên Lương không khỏi, chưa đi tuyến trên, bạn có cách bấm huyệt trị co tay đau tay vẹo tay, khó phát âm nói ngọng chỉ mình trang web để ba mình đọc rồi bấm huyệt cho mình khỏi phải đi khám, gửi cho mình trang web cách bấm huyệt nhé!

    Trả lờiXóa